Điều cần biết khi can thiệp động mạch vành
Từ điển Y khoa - Phẩu thuật & Thủ thuật [ 4/10/2010 | 0:06 GMT+7 ]
GiaoDucSucKhoe.net (Theo PGS.TS Nguyễn Quang Tuấn - Sức Khỏe & Đời Sống)

Bệnh tim mạch hiện đang gia tăng và được coi là mối đe dọa tử vong và tàn phế hàng đầu trên thế giới cũng như ở nước ta. Vì thế khoa học tim mạch cũng phát triển để hạn chế các tác hại đó. Một trong những kỹ thuật chẩn đoán và điều trị về tim mạch được áp dụng đó là can thiệp động mạch vành (ĐMV) qua thông dò tim (catheter).

Điều trị can thiệp ĐMV qua ống thông là một biện pháp điều trị bệnh ĐMV rất hiệu quả và an toàn. Có 2 bước chính phải làm là chụp ĐMV đánh giá vị trí và mức độ tổn thương và làm rộng lòng ĐMV bằng bóng nong và stent. Quá trình chụp và can thiệp ĐMV được thực hiện tại phòng thông tim với hệ thống máy chụp mạch số hoá xoá nền. Để thực hiện kỹ thuật này, người bệnh cần biết các bước như sau:

 Một ca mổ tim tại Khoa Ngoại Tim mạch - BV ĐH Y Dược.

Bước chuẩn bị

Trước hết bệnh nhân được nhập viện, làm các xét nghiệm cần thiết: điện tâm đồ, chụp Xquang tim phổi, các xét nghiệm máu thông thường. Bác sĩ sẽ giải thích về mục đích, các kết quả có thể đạt được, cũng như các biến chứng có thể gặp và các bước tiến hành chụp ĐMV. Bác sĩ sẽ trả lời các thắc mắc của bệnh nhân và gia đình. Bệnh nhân cần nói cho bác sĩ biết về các thuốc đang dùng, những thuốc bị dị ứng hay có chống chỉ định vì tác dụng phụ, một loại thuốc đặc biệt chú ý là aspirin. Bệnh nhân thường được yêu cầu nhịn ăn 6 giờ trước khi làm thủ thuật và không được hút thuốc khi nhập viện.

Tại phòng chụp mạch

Bệnh nhân nằm trên bàn có các hệ thống chiếu chụp và màn hình được điều khiển tự động. Một số thiết bị được gắn trên người bệnh nhân: máy điện tâm đồ, máy đo huyết áp. Các y tá sẽ lập một đường truyền phía bên tay trái để tiêm thuốc khi cần thiết. Bệnh nhân có thể được dùng thuốc để giảm bớt sự lo lắng, căng thẳng nếu cần. Bệnh nhân sẽ hoàn toàn tỉnh táo trong khi làm thủ thuật. Tùy vị trí mà bác sĩ đã lựa chọn, đường vào cho ống thông được mở ở vùng bẹn hoặc ở vùng cổ tay. Trước hết, vùng da đặt đường vào được gây tê và bệnh nhân chỉ thấy đau tức nhẹ trong lúc này. Khi thuốc tê có tác dụng, bệnh nhân sẽ không thấy một cảm giác khó chịu nào. Lần lượt các dụng cụ được đưa vào cơ thể qua đường này. Các ống thông được đưa vào đúng vị trí của ĐMV. Dung dịch chất cản quang được bơm vào ĐMV qua ống thông, trong khi đó hệ thống máy sẽ chụp tự động theo quy trình mà bác sĩ đã đặt ra. Chụp ĐMV sẽ giúp chẩn đoán xác định bệnh, đánh giá chính xác mức độ tổn thương (hẹp) của hệ ĐMV và giúp lựa chọn phương pháp điều trị thích hợp nhất.

Kỹ thuật nong bằng bóng

Đầu tiên phẫu thuật viên sẽ đưa một ống thông can thiệp có độ vững chắc vào nhánh ĐMV cần can thiệp. Sau đó một dây dẫn mềm, rất nhỏ được luồn qua ống thông can thiệp tới nhánh ĐMV, lách qua chỗ hẹp hoặc tắc. Dụng cụ này có tác dụng như một đường ray để dựa trên đó các bác sĩ sẽ đưa các dụng cụ khác như bóng nong, stent trượt lên. Bóng nong sau đó được luồn qua ống thông can thiệp, trượt trên dây dẫn đi tới vị trí chỗ hẹp hay tắc. Bóng được bơm căng lên bằng một dụng cụ đặc biệt với áp lực từ 6-20 át-mốt-phe Trong lúc bơm bóng, bệnh nhân có thể thấy đau ngực. Khi bóng đã nở hoàn toàn, ép các mảng xơ vữa vào thành mạch, lòng mạch được mở rộng thì bóng sẽ được làm xẹp và rút ra ngoài. Nếu tổn thương chỉ cần nong bằng bóng thì thủ thuật sẽ dừng lại ở đây và bác sĩ rút các dụng cụ ra khỏi cơ thể bệnh nhân.

 Đặt stent động mạch cổ an toàn và hiệu quả.

Đặt khung đỡ stent để duy trì khẩu kính của lòng mạch

Cũng như kỹ thuật nong bóng, bóng gắn stent được luồn vào trong ống thông can thiệp, đẩy trượt trên dây dẫn. Bóng gắn stent được đưa vào đúng vị trí ĐMV bị tổn thương, bóng được bơm căng lên để làm nở stent. Với tính chất nhớ hình của mình, stent sẽ áp sát và đẩy mảng xơ vữa ra sát thành mạch làm lòng mạch mở rộng ra. Bóng sau đó được làm xẹp, tách khỏi stent và được rút ra ngoài để lại stent ở vị trí được đặt. Nếu bước này vẫn chưa làm stent nở hết do mảng xơ vữa xơ chắc, bác sĩ sẽ phải dùng thêm một quả bóng khác để nong rộng stent.

Một số điều bệnh nhân thường băn khoăn: Sau khi đặt vào lòng ĐMV, stent có bị gỉ không? Không, vì stent được làm bằng thép y tế không gỉ chịu được sự mài mòn và ôxy hoá cao. Stent có bị dịch chuyển sau khi đặt vào lòng ĐMV không? Không, vì stent được cấy vào lòng ĐMV với áp lực rất cao (từ 10-20 át-mốt-phe) do vậy stent sẽ cố định tại vị trí đặt vĩnh viễn. Stent có bị hỏng không? Không, stent sẽ không bị hỏng về cấu trúc sau khi đặt. Tuy nhiên có một tỷ lệ từ 10-15% bệnh nhân được đặt stent thường và 1-2% bệnh nhân được đặt stent giải phóng thuốc tại chỗ có thể bị tái hẹp trong lòng stent. Nếu ĐMV bị tái hẹp trong lòng stent thì sao? Nếu bị tái hẹp trong lòng stent thì có thể phải nong và đặt stent lại tại vị trí tái hẹp, điều này sẽ không ảnh hưởng gì đến kết quả của thủ thuật. Nếu tổn thương quá nặng, không thể nong và đặt stent được thì có thể phải phẫu thuật bắc cầu nối chủ - vành.

Chăm sóc sau thủ thuật

Sau thủ thuật, bệnh nhân được đưa về khu điều trị và được theo dõi nhịp tim và huyết áp liên tục, theo dõi sự chảy máu nơi đường vào sau rút ống thông (đã được băng ép) vào vị trí này trong 15-20 phút để cầm máu. Sau đó vị trí làm đường vào được băng ép chặt lại. Nếu vị trí đường vào ở vùng bẹn, bệnh nhân phải nằm bất động và duỗi chân thẳng trong 6-12 giờ. Khi ho, bệnh nhân phải dùng ngón tay ấn chặt vào vị trí băng ép. Nếu vị trí đường vào ở vùng cổ tay thì các cử động của bệnh nhân không phải gò bó gì cả. Bất cứ biểu hiện gì ở vùng băng ép như: chảy máu, đau, tụ máu... hãy nói ngay với thầy thuốc.

Bệnh nhân cần uống nhiều nước sau thủ thuật để thải nhanh thuốc cản quang. Sau thời gian phải nằm bất động như trên, bệnh nhân cần được đi lại. Bệnh nhân được ra viện sau 1 hoặc 2 ngày. Về nhà nếu có các dấu hiệu bất thường bệnh nhân phải quay lại khám ngay, nếu bình thường thì khám lại theo lịch hẹn. Có 2 thuốc rất quan trọng mà bệnh nhân phải dùng sau can thiệp ĐMV là: aspirin dùng kéo dài, clopidogrel dùng trong 4 tuần với stent thường và 12 tháng với stent giải phóng thuốc tại chỗ tùy theo chỉ định của bác sĩ. Khi ra viện, việc tuân thủ chế độ sinh hoạt và uống thuốc theo đơn là yếu tố quyết định cho sự thành công của can thiệp. Việc tái khám, chụp ĐMV kiểm tra sự mở rộng của lòng mạch sau can thiệp 6-12 tháng là rất quan trọng vì sẽ giúp bác sĩ có một phác đồ phù hợp hơn và biết trước các nguy cơ sẽ xảy ra như sự tái hẹp muộn.

Chú ý: Sau điều trị can thiệp, bệnh nhân nên trở lại với các hoạt động hằng ngày một cách từ từ, duy trì những thói quen tốt như tập luyện đi bộ, tập thể dục đều đặn, ăn nhạt, kiêng mỡ, không ăn các phủ tạng động vật, ăn ít trứng, sữa, tránh các căng thẳng quá mức. Theo dõi sức khoẻ thường xuyên, dùng thuốc đều đặn và tới khám lại đúng hẹn theo lời dặn của bác sĩ. Không nên bi quan về bệnh tật của mình. Hãy đến gặp bác sĩ để có các thông tin cần thiết, hãy liên lạc với những người có cùng phương pháp điều trị để trao đổi kinh nghiệm trong cuộc sống và phòng bệnh.

 Về trang chủ    Bản để in
Các bài viết cùng chuyên khoa [Tim mạch] trong chuyên mục [Từ điển Y khoa] :
  • Suy tĩnh mạch: sớm phòng ngừa hơn chờ điều trị [7/1/2013 | 7:50 GMT+7]
  • Ðau ngực khi nào là nguy hiểm? [4/10/2012 | 0:30 GMT+7]
  • Nhồi máu cơ tim ở người trẻ: không còn hiếm! [16/6/2012 | 15:15 GMT+7]
  • Tắc động mạch chi dưới [26/11/2011 | 10:24 GMT+7]
  • Đau tim từ... viêm họng [19/10/2011 | 7:30 GMT+7]
  • Vì đâu con tim loạn nhịp? [24/9/2011 | 14:46 GMT+7]
  • Các yếu tố nguy cơ thường gặp của bệnh tim mạch [23/9/2011 | 7:59 GMT+7]
  • Nhận diện cơn đau ngực nguy hiểm [13/7/2011 | 22:59 GMT+7]
  • Đau thắt ngực trên 20 phút: đi cấp cứu ngay [12/7/2011 | 7:01 GMT+7]
  • Chăm sóc trẻ bị tứ chứng Fallot [19/10/2010 | 7:22 GMT+7]
  • Lạnh hai bàn chân, bệnh gì? [7/5/2010 | 6:59 GMT+7]
  • Bệnh cơ tim phì đại [4/5/2010 | 7:20 GMT+7]
  • Rối loạn nhịp tim  [28/4/2010 | 6:35 GMT+7]
  • Đột tử, cái chết không kịp trở tay [13/4/2010 | 7:04 GMT+7]
  • Tránh mặc cảm về bệnh van tim [4/4/2010 | 6:52 GMT+7]
  • Van tim hở có nguy hiểm? [19/3/2010 | 6:21 GMT+7]
  • Lõm ngực báo hiệu nhiều bệnh hiểm [10/3/2010 | 7:03 GMT+7]
  • Bắt mạch, tự chẩn bệnh [24/2/2010 | 6:11 GMT+7]
  • Trái tim mùa đông... [28/1/2010 | 7:43 GMT+7]
  • Huyết áp thấp, làm sao cho bình thường? [5/1/2010 | 7:57 GMT+7]

Quảng cáo


TIỆN ÍCH ONLINE