Đẹp da, dài tóc
Y học chuyên đề - Sức khỏe trẻ em [ 19/10/2012 | 7:33 GMT+7 ]
GiaoDucSucKhoe.net (Theo TS. BS. Trần Thị Minh Hạnh - Phó giám đốc Trung tâm Dinh dưỡng TP.HCM, Tuổi Trẻ)
ường dùng những cụm từ như “trắng da, dài tóc”. Tuy nhiên, da trắng và tóc dài cũng chưa hẳn đã đẹp.

Ăn uống, nghỉ ngơi đúng cách là bí quyết làm đẹp của nhiều cô gái (ảnh minh họa) - Ảnh: T.T.D.

Nếu da trắng mà xanh tái chứng tỏ sức khỏe kém do bị thiếu máu, không đủ hồng huyết cầu. Tóc dài nhưng bị khô và rụng có thể vì thiếu đạm, thiếu sắt, kẽm hoặc các vitamin nhóm B.

Chế độ ăn cân bằng và đa dạng.

Chế độ ăn hợp lý sẽ giúp làm chậm quá trình lão hóa của tất cả các mô trong cơ thể, kể cả da và tóc nên sẽ giúp có làn da và mái tóc khỏe đẹp. Chế độ ăn cân bằng nghĩa là phải đảm bảo cho cơ thể không bị thiếu dinh dưỡng, đặc biệt là chất đạm, vitamin và khoáng chất.

- Chất đạm có nhiều trong thịt, cá, trứng, sữa và sản phẩm từ sữa, đậu nành và các loại đậu khác. Nên uống 1-2 ly sữa hoặc sản phẩm từ sữa mỗi ngày. Dùng sữa đậu nành cũng rất tốt vì đậu nành vừa giàu đạm, lại giàu canxi và các vi khoáng chất khác.

- Chọn ngũ cốc nguyên hạt (ít nhất cũng phải đạt một nửa trong chế độ ăn). Ngũ cốc nguyên hạt sẽ chứa nhiều vitamin nhóm B và chất xơ.

- Đa dạng các loại rau trái: giúp làm chậm quá trình lão hóa da và tóc vì rau trái chứa nhiều vitamin và khoáng chất cần thiết cho làn da, chẳng hạn như:

* Vitamin E (có trong trái bơ, dầu thực vật (đặc biệt là dầu ôliu), các loại hạt nhiều dầu, bắp, mầm giá đỗ) là một trong những chất chống oxy hóa tốt nhất trong cơ thể, hòa tan trong chất béo và bảo vệ chúng khỏi các tác nhân oxy hóa. Vitamin E còn giúp tăng hấp thụ oxy, tăng tuần hoàn máu ở da đầu, giúp mọc tóc...

Để có làn da và mái tóc đẹp cần chú ý:

- Ăn đa dạng các loại thực phẩm; ăn đủ rau quả tươi. Chú ý rau củ quả màu xanh, vàng hoặc đỏ đậm. Chú ý thực phẩm giàu chất chống oxy hóa.

- Ăn thực phẩm giàu chất xơ: ngũ cốc nguyên hạt, rau quả.

- Uống nhiều nước; không ăn nhiều đường.

- Không hút thuốc, hạn chế cà phê.

- Tránh táo bón.

- Ngủ đủ giấc, nghỉ ngơi, thư giãn, tránh bị stress; vận động thường xuyên.

- Chăm sóc da và tóc thường xuyên...

* Vitamin A tham gia chủ yếu trong chu trình sống bình thường của tế bào da. Thiếu vitamin A sẽ làm cho da bị khô, dễ nứt nẻ và có nếp nhăn. Thực phẩm động vật là nguồn vitamin A chủ yếu, đặc biệt là gan, trứng, thịt, sữa nguyên kem hoặc sản phẩm từ sữa. Nhiều loại rau xanh đậm hoặc củ quả vàng đậm chứa nhiều beta-caroten có thể chuyển thành vitamin A trong cơ thể.

Vitamin C là chất chống oxy hóa tan trong nước, bảo vệ cơ thể khỏi những tổn thương do gốc tự do gây ra. Vitamin C còn tham gia quá trình tạo collagen giúp da chắc khỏe, đàn hồi tốt, khiến vết thương chóng lành và cũng giúp tăng hấp thu sắt, có tác dụng cải thiện tuần hoàn máu ở da, giúp da và tóc được nuôi dưỡng tốt. Các loại trái cây họ cam quýt, ớt ngọt (ớt Đà Lạt), khoai tây, rau lá xanh có nhiều vitamin C.

* Kẽm giúp hấp thụ vitamin A, giảm các gốc tự do, làm tăng chức năng miễn dịch nên cũng giúp bảo vệ da và kích thích phát triển tóc. Kẽm có trong thức ăn nguồn gốc động vật, hải sản (đặc biệt nhiều trong con hàu).

Vitamin nhóm B: Vitamin B1 & B2 tham gia chủ yếu vào quá trình sinh năng lượng của tế bào, khi thiếu sẽ gây những dạng bệnh viêm da đặc trưng. Vitamin B1 và B2 có nhiều trong ngũ cốc nguyên hạt, gia cầm, cá, trứng, sữa, rau xanh, các loại đậu. Vitamin B12 (cyanocobalamine) khi thiếu sẽ đặc biệt bất lợi cho sự phân chia nhanh các tế bào, kể cả tế bào da. Loại vitamin này có ở thực phẩm nguồn gốc động vật (thịt, gia cầm, cá, trứng, sữa và sản phẩm từ sữa). Folate (vitamin B9) tham gia nhiều quá trình sinh hóa cũng giống như vitamin B12, đặc biệt quan trọng đối với quá trình phân bào nhanh, kể cả tế bào da. Rau là nguồn thực phẩm giàu folate, đặc biệt là rau lá xanh và đậu, folate cũng có ở gan.

* Sắt: thiếu chất sắt sẽ dẫn đến thiếu máu làm cho da và môi trở nên xanh tái, nhợt nhạt. Sắt có nhiều trong thịt, cá, gan, trứng, đậu đỗ và rau xanh. Do phụ nữ trong độ tuổi sinh sản thường mất máu sinh lý hằng tháng nên bên cạnh chế độ ăn giàu chất sắt cũng cần uống thêm viên sắt (60mg) và acid folic (0,4mg) với liều một viên mỗi tuần, liên tục 16 tuần mỗi năm để ngừa thiếu máu.

* Iốt cần để tổng hợp hormone tuyến giáp, là một hormone cần thiết cho sự tăng trưởng các tế bào nên cũng giúp da khỏe và mọc tóc. Iốt có nhiều trong rong biển nhưng chế độ ăn có thể không đủ. Do đó, nên sử dụng muối iốt thay cho muối thường trong chế độ ăn hằng ngày.

Tránh ăn nhiều đường. Ăn đường nhiều quá là một trong những nguyên nhân dẫn đến lão hóa sớm, hình thành nếp nhăn trên da.

Uống đủ nước. Một làn da được giữ ẩm sẽ ít có khuynh hướng tạo nếp nhăn hơn là da khô. Uống nhiều nước trong suốt cả ngày (khoảng 6-8 ly nước) sẽ giúp cơ thể không bị mất nước và da không bị khô (nhất là trong môi trường dùng máy điều hòa nhiệt độ). Cafein gây lợi tiểu nên sẽ làm cơ thể bị mất nước. Do đó, đây không phải là thức uống tốt cho da. Nước trà xanh là thức uống rất tốt cho da vì chứa nhiều chất chống oxy hóa.

Kiểm soát cân nặng. Việc kiểm soát cân nặng cũng quan trọng đến làn da không kém. Bởi khi tăng cân, lớp mỡ dưới da sẽ làm căng da, đến khi sụt cân thì lớp mỡ dưới da mất đi làm da chùng lại tạo nếp nhăn.

Tránh táo bón. Làn da đẹp cũng phản ánh một hệ tiêu hóa tốt. Những người có mụn trứng cá thường bị táo bón do mất cân bằng giữa vi khuẩn có lợi và có hại trong ruột. Các nguyên nhân thường gây táo bón là: uống không đủ nước, không ăn đủ chất xơ, ít vận động.

Vận động thường xuyên. Vận động giúp máu lưu thông khắp cơ thể, kể cả làn da.

Giấc ngủ. Thiếu ngủ sẽ làm da xấu đi. Ngoài ra, mất ngủ còn làm giảm hệ miễn dịch nên dễ bị nhiễm bệnh hơn. Mất ngủ còn là nguyên nhân gây căng thẳng, làm giảm hệ miễn dịch của cơ thể. Căng thẳng cũng ảnh hưởng đến các cơ quan khác trong cơ thể, kể cả làn da.

Tránh ánh nắng. Hạn chế ra nắng trong khoảng từ 9g-16g, hoặc phải bảo vệ da và tóc bằng cách đội nón, mang kính râm, khẩu trang, mặc áo dài tay, thoa kem chống nắng.

 Về trang chủ    Bản để in
Các bài viết cùng chuyên khoa [Sản Phụ khoa] trong chuyên mục [Y học chuyên đề] :
  • Lợi ích của việc nuôi con bằng sữa mẹ [16/7/2017 | 22:27 GMT+7]
  • Biện pháp IVM rẻ hơn thụ tinh trong ống nghiệm [7/1/2013 | 7:14 GMT+7]
  • Trước khi mang thai nên tiêm phòng bệnh gì? [14/11/2012 | 23:01 GMT+7]
  • Thận trọng khi dùng papaverin chống co thắt [14/11/2012 | 3:06 GMT+7]
  • Mãn kinh và bốc hỏa ở phụ nữ [11/11/2012 | 9:39 GMT+7]
  • Giữ sức khỏe, lấy lại dáng sau sinh [8/11/2012 | 21:01 GMT+7]
  • Lớn chuyện với "đồ nhỏ"! [31/10/2012 | 8:15 GMT+7]
  • Giữ vệ sinh phòng viêm âm đạo [23/10/2012 | 7:38 GMT+7]
  • Cảnh giác tai biến do dùng thuốc phá thai [12/10/2012 | 23:15 GMT+7]
  • 5 nhóm dưỡng chất phụ nữ lớn tuổi cần bổ sung [6/10/2012 | 9:58 GMT+7]
  • Người có thai cần tránh những kháng sinh nào? [25/7/2012 | 7:54 GMT+7]
  • Chất nào độc hại với bào thai? [26/11/2011 | 10:01 GMT+7]
  • Mổ lấy thai: có khi “lợi bất cập hại” [13/11/2011 | 12:24 GMT+7]
  • Chăm sóc trước khi mang thai: chuyện lớn! [29/10/2011 | 9:47 GMT+7]
  • Nhiễm rubella: Làm thế nào để đừng phá thai oan? [26/8/2011 | 21:45 GMT+7]
  • Nuôi con bằng sữa mẹ: đẹp mẹ, khoẻ con [9/8/2011 | 7:30 GMT+7]
  • Ngộ độc thức ăn khi mang thai [6/8/2011 | 5:55 GMT+7]
  • Thận trọng khi dùng thuốc trong thai kỳ [1/8/2011 | 7:01 GMT+7]
  • Tăng huyết áp ở phụ nữ mang thai [29/7/2011 | 22:58 GMT+7]
  • Tai hại khi lạm dụng thuốc tránh thai khẩn cấp [29/7/2011 | 7:34 GMT+7]

Quảng cáo


TIỆN ÍCH ONLINE