Viêm khớp
Từ điển Y khoa - Bệnh lý [ 2/6/2008 | 19:10 GMT+7 ]
GiaoDucSucKhoe.net (Theo Viện Sức khỏe Quốc gia Hoa Kỳ - NIH và MedicineNet.com)

Viêm khớp là gì?

Viêm khớp là một dạng rối loạn tại khớp được đặc trưng bởi hiện tượng viêm. Viêm khớp thông thường được hiểu là viêm một hay nhiều khớp.

Viêm khớp thường có kèm triệu chứng đau khớp.

Các loại viêm khớp?

Có nhiều dạng viêm khớp khác nhau (trên 100 dạng). Các dạng viêm khớp có thể có liên quan đến hiện tượng "mòn và rách" sụn khớp (VD viêm xương khớp) hoặc hiện tượng đáp ứng miễn dịch quá mức (VD viêm khớp dạng thấp)

Nguyên nhân của viêm khớp?

Nguyên nhân của viêm khớp tùy thuộc vào loại viêm khớp. Các nguyên nhân bao gồm:

  • Chấn thương (dẫn đến viêm xương khớp)
  • Bất thường về chuyển hóa (Bệnh gout, giả gout)
  • Di truyền, nhiễm trùng, hoặc không rõ nguyên nhân (bệnh viêm khớp dạng thấp, bệnh lupus ban đỏ thệ thống)

Các triệu chứng của viêm khớp?

Các triệu chứng của viêm khớp thường là sưng, nóng, đỏ, đau, cứng khớp.

Nhiều dạng của viêm khớp thuộc bệnh lý thấp có thể ảnh hưởng đến các cơ quan khác không có liên quan trực tiếp đến khớp. Do đó ở một số dạng viêm khớp có thể có sốt, sụt cân, mệt, và thậm chí xuất hiện các triệu chứng ở phổi, tim hay thận.

Chẩn đoán viêm khớp như thế nào?

Trước khi được chẩn đoán, bệnh nhân sẽ được:

  • Thăm khỏi về tiền sử của các triệu chứng
  • Thăm khám khớp để đánh giá các tình trạng viêm cũng như sự biến dạng của khớp
  • Hỏi và thăm khám các cơ quan khác trong cơ thể để tìm kiếm dấu hiệu viêm và các triệu chứng mà bệnh có thể ảnh hưởng đến các cơ quan này.
  • Tiến hành các xét nghiệm nước tiểu, máu, dịch khớp, x quang khớp

Chẩn đoán viêm khớp sẽ được thực hiện dựa vào việc tổng hợp thông tin từ các bước trên.

Việc chẩn đoán chính xác và sớm có thể giúp tránh được những trường hợp tổn thương khớp không hồi phục hay tàn phế. Các chương trình hướng dẫn tập thể dục đúng cách, nghĩ ngơi, uống thuốc, tập vật lý trị liệu và phẩu thuật có thể mang lại lợi ích lâu dài cho những bệnh nhân viêm khớp.

Điều trị viêm khớp như thế nào?

Việc điều trị viêm khớp tùy thuộc vào nguyên nhân cụ thể gây nên viêm khớp, độ nặng và mức độ ảnh hưởng đến hoạt động hàng ngày. Tuổi tác và nghề nghiệp cũng là những khía cạnh cần được xem xét để bác sĩ có thể đưa ra những kế hoạch điều trị phù hợp.

Nếu có thể, việc điều trị sẽ tập trung vào việc loại bỏ những nguyên nhân gây viêm khớp. Tuy nhiên nếu các nguyên nhân này không thể được chữa khỏi (VD như trường hợp viêm xương khớp hay viêm khớp dạng thấp) thì việc điều trị sẽ hướng đến mục tiêu làm giảm đi các triệu chứng của viêm khớp, ngăn chặn những tổn thương khớp không hồi phục hay tàn phế và mang lại sự thoải mái cho bệnh nhân.

Có thể cải thiện đáng kể các triệu chứng của viêm xương khớp và các dạng viêm khớp mạn tính khác mà không cần dùng thuốc. Thực tế, việc thay đổi lối sống mà không cần dùng thuốc là phương pháp điều trị được ưa chuộng đối với bệnh viêm xương khớp và các dạng viêm khớp khác. Khi cần thiết thì có thể sử dụng thuốc cùng với việc thay đổi lối sống.

  • Tập thể dục: Đối với viêm khớp thì tập thể dục là cần thiết để duy trì khớp khỏe mạnh, giảm đau, giảm hiện tượng cứng khớp, cải thiện sức mạnh của cơ và xương. Mỗi cá nhân cần được thiết kế chương trình tập riêng bởi bác sĩ vật lý trị liệu, bao gồm: các bài tập vận động về độ mềm dẻo, tăng trương lực cơ, các bài tập về sức bền. Các nhà vật lý trị liệu cũng có thể áp dụng những liệu pháp nóng, lạnh khi cần thiết và có thể cố định bạn bằng những thanh nẹp hay các thiết bị chỉnh hình khác để giúp nâng đỡ và điều chỉnh khớp. Điều này đặc biệt cần thiết đối với viêm khớp dạng thấp. Các nhà vật lý trị liệu cũng có thể áp dụng các liệu pháp bằng nước, mát-xa bằng nước đá, hoặc kích thích các dây thần kinh qua da.
  • Nghĩ ngơi: cũng quan trọng như tập thể dục. Nên ngủ 8 - 10 tiếng mỗi đêm và ngủ trưa.
  • Có thể áp dụng các biện pháp khác:
    • Uống glucosamine và chondroitin: Đây là những chất giúp tạo sụn khớp, một lớp chất đệm của mặt khớp. Một số công trình nghiên cứu cho thấy những chất này có thể làm giảm các triệu chứng của viêm xương khớp, một số nghiên cứu khác thì không. Tuy nhiên, những chất này thì an toàn và có thể sử dụng thử. Nhiều bệnh nhân nhận thấy các triệu chứng của họ được cải thiện.
    • Ăn chế độ ăn nhiều vitamin và khoáng chất đặc biệt là những chất chống ôxy hóa như vitamin E. Các chất này có trong rau và trái cây.
  • Điều trị bằng thuốc:
  • Các thuốc không cần toa của bác sĩ, bao gồm:

    • Acetaminophen (Tylenol): Thuốc này có thể làm giảm các triệu chứng mà không gây nhiều tác dụng phụ như các thuốc kê toa. Không được uống vượt quá liều khuyến cáo của acetaminophen hoặc uống thuốc khi uống nhiều rượu vì có thể làm tổn thương gan.
    • Aspirin, ibuprofen, hay naproxen: Các thuốc kháng viêm không steroid (NSAID) này thường có hiệu quả trong việc điều trị đau do viêm khớp. Tuy nhiên chúng cũng có thể có những nguy cơ, đặc biệt là khi sử dụng lâu dài. Không nên tự ý sử dụng các thuốc này nếu không có sự chỉ dẫn của bác sĩ. Các tác dụng phụ có thể bao gồm nhồi máu cơ tim, đột quỵ (tai biến mạch máu não), loét dạ dày, xuất huyết đường tiêu hóa, và tổn thương thận. Nếu bạn có tiền sử bệnh gan, bệnh thận, xuất huyết tiêu hóa thì không nên sử dụng các thuốc này trừ khi có chỉ định của bác sĩ.

    Các thuốc kê toa bao gồm:

    • Nhóm thuốc ức chế men cyclooxygenase-2 (Ức chế COX-2): Nhóm thuốc này ức chế men thúc đẩy quá trình viêm có tên là cyclooxygenase-2 (COX-2). Nhóm thuốc này được cho rằng có hiệu quả như nhóm thuốc kháng viêm không steroid nhưng ít tác dụng phụ trên dạ dày hơn, nhưng có nhiều báo cáo ghi nhận các tác dụng phụ của nhóm này về nhồi máu cơ tim và đột quỵ.
    • Corticosteroid (Steroid): Các thuốc nhóm này có tác dụng ức chế hệ thống miễn dịch và các triệu chứng viêm. Thông thường, chúng được sử dụng trong các trường hợp nặng của viêm khớp dạng thấp qua đường uống hoặc tiêm chích. Các thuốc kháng viêm steroid này được sử dụng để điều trị các dạng viêm khớp tự miễn nhưng tránh sử dụng trong các trường hợp viêm khớp nhiễm trùng. Nhóm thuốc này có nhiều tác dụng phụ, bao gồm kích thích dạ dày, xuất huyết tiêu hóa, cao huyết áp, loãng xương, đục thủy tinh thể ở mắt, nhiễm trùng nặng lên. Các nguy cơ càng tăng lên nếu sử dụng lâu dài và liều cao. Việc điều trị với những thuốc này cần được bác sĩ theo dõi chặt chẽ.
    • Các thuốc chống bệnh thấp: Nhóm thuốc này được sử dụng để điều trị viêm khớp dạng thấp và các dạng viêm khớp tự miễn khác. Các thuốc nhóm này bao gồm penicillamine, sulfasalazine và hydroxychloroquine. Gần đây, methotrexate đã được nhận thấy là có khả năng làm chậm tiến triển của viêm khớp dạng thấp và cải thiện chất lượng cuộc sống. Methotrexate có độc tính cao, do đó cần phải xét nghiệm máu thường xuyên để kiểm tra.
    • Các chế phẩm sinh học: Đây là những tiến bộ mới nhất trong việc điều trị viêm khớp dạng thấp, bao gồm etanercept (Enbrel), infliximab (Remicade) và adalimumab (Humira) qua đường chích có thể cải thiện ngoạn mục chất lượng cuộc sống. Các chế phẩm sinh học mới bao gồm Orencia (abatacept) và Rituxan (rituximab).
    • Nhóm thuốc ức chế miễn dịch: Các thuốc này giống như azathioprine hoặc cyclophosphamide được sử dụng trong những trường hợp viêm khớp dạng thấp nặng mà các thuốc khác thất bại.

    Điều rất quan trọng là những dạng viêm khớp khác nhau do nhiều nguyên nhân khác nhau và do đó sẽ có những cách thức điều trị riêng biệt. Không được tự ý dùng thuốc mà phải theo sự hướng dẫn của bác sĩ.

Phẫu thuật và những cách tiếp cận điều trị khác?

Trong một số trường hợp, việc tiến hành phẩu thuật để tái tạo hoặc thay thế khớp mới (VD thay thế toàn bộ khớp gối) có thể giúp bệnh nhân duy trì cuộc sống bình thường hơn. Quyết định phẩu thuật thay thế khớp chỉ được thực hiện khi các biện pháp điều trị khác như thay đổi lối sống và dùng thuốc không còn hiệu quả nữa.

Khớp bình thường có chứa chất bôi trơn bên trong được gọi là hoạt dịch (dịch khớp). Trong viêm khớp thì hoạt dịch không được sản xuất đầy đủ. Bác sĩ có thể tiêm vào trong khớp một loại dịch khớp nhân tạo trong một số trường hợp. Loại dịch tổng hợp này giúp trì hoãn nhu cầu phẩu thuật ít nhất là tạm thời và giúp cải thiện chất lượng cuộc sống của bệnh nhân viêm khớp.

Tiên lượng của viêm khớp?

Hầu hết viêm khớp là bệnh lý diễn tiến mạn tính, do đó mục tiêu điều trị là kiểm soát triệu chứng đau khớp và giảm thiểu tổn thương khớp.

Khi nào cần đến bác sĩ?

Cần đến bác sĩ để được thăm khám khi:

  • Đau khớp kéo dài trên 3 ngày
  • Đau khớp rất nặng không rõ lý do
  • Sưng khớp
  • Khớp bị giới hạn cử động
  • Da vùng xung quanh khớp bị đỏ và nóng khi sờ
  • Sốt hoặc sụt cân
 Về trang chủ    Bản để in
Các bài viết cùng chuyên khoa [Cơ Xương Khớp] trong chuyên mục [Từ điển Y khoa] :
  • Thay khớp háng ở người cao tuổi: Giải pháp khi bị gãy cổ xương đùi [27/10/2013 | 11:31 GMT+7]
  • Tập vận động sau phẫu thuật gân [14/8/2013 | 6:18 GMT+7]
  • Cẩn trọng với tăng acid uric máu [14/8/2013 | 6:01 GMT+7]
  • Bệnh lý viêm gân [11/8/2013 | 16:17 GMT+7]
  • Tổn thương dây chằng chéo sau: Khi nào cần phẫu thuật?  [7/1/2013 | 8:04 GMT+7]
  • Hội chứng đường hầm cổ tay (hội chứng ống cổ tay) [4/12/2012 | 7:42 GMT+7]
  • Làm gì khi bị bong gân? [11/11/2012 | 10:12 GMT+7]
  • Viêm khớp dạng thấp: Điều trị sớm để tránh nguy cơ tàn phế [25/10/2012 | 7:35 GMT+7]
  • Bệnh ở bao hoạt dịch khớp gối [19/10/2012 | 7:48 GMT+7]
  • Cẩn thận đau cổ tay sau té [6/10/2012 | 0:16 GMT+7]
  • Càng tập: càng đau, càng mỏi [29/10/2011 | 9:04 GMT+7]
  • Tàn phế vì chủ quan với chứng đau khớp  [3/10/2011 | 21:25 GMT+7]
  • Thoát vị đĩa đệm cột sống và những di chứng [5/9/2011 | 21:28 GMT+7]
  • Thận trọng với Hội chứng cổ vai cánh tay [2/9/2011 | 22:03 GMT+7]
  • Thoái hóa khớp: Cần điều trị sớm [1/9/2011 | 7:19 GMT+7]
  • Viêm khớp dạng thấp [25/7/2011 | 7:37 GMT+7]
  • Đục xương sửa trục điều trị gãy mâm chày [22/2/2011 | 22:42 GMT+7]
  • Hội chứng đau vai gáy - Phòng hơn chữa [31/10/2010 | 17:45 GMT+7]
  • Thoát vị đĩa đệm có phải là bệnh không? [4/10/2010 | 0:27 GMT+7]
  • Bị đau vai gáy, đừng quá lo! [19/9/2010 | 19:19 GMT+7]

Quảng cáo


TIỆN ÍCH ONLINE