Tiểu đường
Từ điển Y khoa - Bệnh lý [ 30/7/2008 | 19:55 GMT+7 ]
GiaoDucSucKhoe.net (Theo MedicineNet)

Tiểu đường là gì?

Tiểu đường (Đái tháo đường) là một nhóm các bệnh chuyển hóa đặc trưng bởi nồng độ đường (glucose) trong máu cao do khiếm khuyết về sự bài tiết hoặc tác động (hoặc cả hai) của insulin. Tiểu đường lần đầu tiên được xác định vào thời kỳ xa xưa là một bệnh lý có liên quan với tình trạng "nước tiểu ngọt" và giảm cân. Nồng độ glucose trong máu tăng cao (tăng đường huyết) sẽ dẫn đến hiện tượng bài tiết glucose vào trong nước tiểu, và vì vậy mới xuất hiện từ "nước tiểu ngọt" để mô tả. Bình thường, nồng độ glucose trong máu được kiểm soát chặt chẽ bởi insulin, một hormon được sản xuất bởi tụy tạng. Insulin có tác dụng làm giảm nồng độ glucose trong máu. Khi nồng độ glucose trong máu gia tăng (VD sau khi ăn) thì insulin sẽ được phóng thích từ tụy để giúp bình ổn nồng độ glusoce máu. Ở người bệnh tiểu đường, tăng đường huyết là do sự sản xuất insulin bị mất hoặc sút giảm. Tiểu đường là một bệnh lý mạn tính, dù cho có thể kiểm soát được đường huyết nhưng bệnh kéo dài suốt đời.

Hậu quả của tiểu đường là gì?

Theo thời gian, tiểu đường sẽ dẫn đến mù mắt, suy thận và tổn thương thần kinh. Những biến chứng này là do tổn thương các mạch máu nhỏ (thường được gọi là bệnh vi mạch). Tiểu đường cũng là một yếu tố quan trong trong việc thúc đẩy hiện tượng hẹp và xơ cứng thành mạch máu (Xơ vữa động mạch). Điều này sẽ dẫn đến đột quỵ, nhồi máu cơ tim và các bệnh lý động mạch lớn khác. Tại Mỹ, tiểu đường chiếm khoảng 8% trong dân số.

Tiểu đường là nguyên nhân tử vong hàng thứ ba sau ung thư và bệnh tim.

Nguyên nhân của tiểu đường gồm những gì?

Sản xuất insulin bị sút giảm (tuyệt đối hoặc tương đối so với nhu cầu của cơ thể), sản xuất insulin bị khiếm khuyết về chức năng (nguyên nhân không thường gặp) hoặc các tế bào không thể sử dụng insulin đúng cách và hiệu quả cũng sẽ dẫn đến tăng đường huyết và bệnh tiểu đường. Nguyên nhân sau cùng ảnh hưởng chủ yếu ở các tế bào cơ và mô mỡ và gây nên một hiện tượng được gọi là "Đề kháng insulin". Đây là vấn đề quan trọng nhất ở tiểu đường tuýp 2 (tiểu đường loại 2). Sự thiếu hụt tuyệt đối insulin do quá trình hủy hoại các tế bào beta có nhiệm vụ sản xuất insulin ở tụy là rối loạn chủ yếu ở tiểu đường tuýp 1 (tiểu đường loại 1). Ở tiểu đường tuýp 2 cũng có hiện tượng sụt giảm đều đặn về số lượng tế bào beta của tụy và điều này góp phần vào tiến trình làm tăng đường huyết. Nếu một người đề kháng với insulin thì cơ thể của họ trong chừng mực nào đó sẽ cố gắng gia tăng sản xuất insulin và vượt qua được hiện tượng đề kháng này. Nhưng về lâu dài, nếu sự sản xuất này bị giảm đi và insulin không được phóng thích đầy đủ thì hiện tượng tăng đường huyết sẽ khởi phát.

Glucose là một loại đường đơn có trong thực phẩm. Glucose là dưỡng chất chủ yếu giúp các tế bào trong cơ thể thực hiện đúng các chức năng của chúng. Carbohydrate trong thức ăn bị phân nhánh ở ruột non và glucose sau đó sẽ được hấp thu bởi các tế bào ở ruột để vào máu và tiếp tục được dòng máu mang đến tất cả các tế bào trong cơ thể để sử dụng. Tuy nhiên, bản thân glucose không thể tự vào được bên trong tế bào mà phải nhờ đến insulin để giúp vận chuyển vào bên trong tế bào. Nếu không có insulin, các tế bào sẽ trở nên "đói" glucose mặc dù glucose dư thừa trong máu. Glucose dư thừa, không được sử dụng sẽ bị bài xuất vào nước tiểu để thải ra ngoài.

Insulin là một nội tiết tố (hormone) được sản xuất bởi các tế bào chuyên biệt (tế bào beta) ở tụy. Tụy là một cơ quan nằm sâu trong bụng, phía sau dạ dày (xem hình). Ngoài chức năng giúp vận chuyển glucose vào bên trong tế bào, insulin còn đóng vai trò quan trọng trong việc điều hòa chặt chẽ nồng độ glucose trong máu. Nồng độ glucose trong máu gia tăng sau bữa ăn. Để đáp ứng với hiện tượng này, tụy sẽ phóng thích vào máu nhiều insulin để giúp vận chuyển glucose vào trong tế bào và làm giảm nồng độ glucose trong máu sau khi ăn. Khi nồng độ glucose trong máu giảm bớt thì sự phóng thích insulin từ tụy cũng sẽ giảm theo. Cần lưu ý rằng thậm chí khi đang bị đói thì insulin vẫn được phóng thích đều đặn với nồng độ thấp để giúp duy trì nồng độ đường huyết ổn định khi đói. Hệ thống điều hòa như vậy sẽ giúp giữ được nồng độ glucose trong máu ở giới hạn bình thường. Như đă trình bày bên trên, ở những bệnh nhân tiểu đường thì insulin không được bài tiết hay bị thiếu hụt so với nhu cầu của cơ thể, hoặc không được cơ thể sử dụng đúng cách. Tất cả những yếu tố này đều làm gia tăng nồng độ glucose trong máu (tăng đường huyết).

Các dạng khác nhau của tiểu đường?

Có 2 dạng tiểu đường chính, thường được gọi là tuýp 1 và tuýp 2. Tiểu đường tuýp 1 còn được gọi là tiểu đường phụ thuộc insulin hay tiểu đường khởi phát ở người trẻ tuổi. Ở tiểu đường tuýp 1, tụy tạng bị tấn công tự miễn làm cho nó mất khả năng sản xuất insulin. Những kháng thể bất thường này được tìm thấy ở hầu hết những bệnh nhân tiểu đường tuýp 1. Kháng thể là những protein trong máu thuộc một phần của hệ miễn dịch. Bệnh nhân tiểu đường tuýp 1 phải phụ thuộc vào thuốc có chứa insulin để sống sót.

Trong các bệnh lý tự miễn ví dụ như tiểu đường tuýp 1, hệ thống miễn dịch bị nhầm lẫn khi tạo nên những kháng thể và các tế bào viêm có khuynh hướng chống lại và gây tổn thương cho các mô của chính cơ thể bệnh nhân. Ở bệnh nhân tiểu đường tuýp 1, các tế bào beta của tụy chịu trách nhiệm sản xuất ra insulin bị tấn công bởi hệ thống miễn dịch sai sót này. Mặc dù chưa thật sự hiểu rõ về mặt cơ chế nhưng người ta tin rằng việc xuất hiện những kháng thể bất thường ở tiểu đường tuýp 1 một phần là do yếu tố gen. Bị nhiễm một số loại virus (bệnh quai bị, Coxsackie virus) hay các độc chất trong môi trường có thể kích hoạt những đáp ứng miễn dịch bất thường mà có thể gây tổn hại đến các tế bào beta tuyến tụy, nơi mà insulin được sản xuất. Có thể đo lượng kháng thể này ở hầu hết các cá nhân và giúp đánh giá xem những ai là có nguy cơ khởi phát tiểu đường tuýp 1.

Hiện tại, Hiệp hội Tiểu đường Hoa kỳ (ADA) không đề nghi tầm soát rộng rãi trong dân số đối với dạng tiểu đường tuýp 1 mặc dù việc tầm soát dạng bệnh này ở những đối tượng có nguy cơ cao như những người có quan hệ huyết thống mức độ 1 (anh, chị, em ruột, cha mẹ) nên được thực hiện. Tiểu đường tuýp 1 có khuynh hướng xuất hiện ở những người gầy, trẻ và thường dưới 30 tuổi. Tuy nhiên, thỉnh thoảng cũng có những bệnh nhân tiểu đường tuýp 1 lớn tuổi hơn, dạng này thường được gọi là tiểu đường tự miễn tiềm ẩn ở người lớn. Đây là một dạng tiến triển chậm của tiểu đường tuýp 1.

Trong tất cả các bệnh nhân tiểu đường thì chỉ khoảng 10% là tiểu đường tuýp 1, còn lại đến 90% là tiểu đường tuýp 2.

Tiểu đường tuýp 2 thường được gọi là tiểu đường không phụ thuộc insulin hay tiểu đường khởi phát ở người lớn. Ở tiểu đường tuýp 2, bệnh nhân có thể vẫn sản xuất được insulin nhưng sự sản xuất này vẫn không đủ so với nhu cầu của cơ thể, đặc biệt là trong trường hợp bệnh nhân bị đề kháng insulin như đã trình bày ở trên. Trong nhiều trường hợp, điều đó có nghĩa là tụy đã sản xuất ra số lượng insulin nhiều hơn bình thường. Đặc điểm của tiểu đường tuýp 2 là sự mất đi độ nhạy đối với insulin của các tế bào trong cơ thể (đặc biệt là những tế bào mỡ và cơ). Ngoài vấn đề về gia tăng đề kháng với insulin, thì sự phóng thích insulin từ tụy cũng bị khiếm khuyết hoặc không hiệu quả. Thực tế cho thấy có sự giảm đều đặn về mức độ sản xuất insulin của tế bào beta ở tiểu đường tuýp 2, và điều này góp phần làm giảm đi khả năng kiểm soát đường huyết. Cuối cùng, gan ở những bệnh nhân này bắt đầu sản xuất glucose thông qua một quá trình được gọi là "Quá trình tân tạo glucose" mặc dù nồng độ glucose trong máu tăng cao.

Trong khi tiểu đường tuýp 2 xuất hiện chủ yếu ở những người trên 30 tuổi và tần suất mắc bệnh tăng dần theo tuổi tác thì có một số lượng đáng báo động về những bệnh nhân tiểu đường tuýp 2 chỉ mới ở độ tuổi thanh thiếu niên. Thực tế là tiểu đường tuýp 2 giờ đây đã trở nên thường gặp hơn ở trẻ em so với tiểu đường tuýp 1. Hầu hết những trường hợp này là do hậu quả trực tiếp của thói quen ăn uống nghèo nàn, tình trạng tăng cân và thiếu vận động.

Trong khi yếu tố di truyền có liên quan mật thiết đến việc khởi phát tiểu đường tuýp 2 thì loại tiểu đường này còn có những yếu tố nguy cơ khác, nổi bật nhất là béo phì. Có một mối quan hệ trực tiếp giữa mức độ béo phì và nguy cơ khởi phát tiểu đường tuýp 2, và điều này đúng ở cả trẻ em cũng như người lớn. Ước tính cho mỗi gia tăng 20% so với trọng lượng cơ thể tiêu chuẩn thì nguy cơ khởi phát tiểu đường tuýp 2 tăng gấp đôi.

Về tuổi tác, các dữ liệu cho thấy rằng ở độ tuổi sau 40 tuổi, cứ mỗi 10 năm thì tần suất mắc bệnh tiểu đường cũng tăng theo bất kể trọng lượng cơ thể là bao nhiêu. Tần suất tiểu đường ở người có tuổi từ 65-74 là khoảng 20%. Tần suất mắc bệnh tiểu đường thường cao hơn nhiều ở những phụ nữ có tiền sử bị tiểu đường trong quá trình mang thai (Tiểu đường do thai kỳ).

Tiểu đường có thể xuất hiện tạm thời trong thời kỳ mang thai. Những thay đổi đáng kể về nội tiết tố trong quá trình mang thai có thể làm cho nồng độ đường huyết tăng cao ở những người có có yếu thuận lợi về mặt di truyền. Tăng đường huyết trong quá trình mang thai được gọi là tiểu đường do thai kỳ. Tiểu đường do thai kỳ sẽ biến mất sau khi em bé được sinh ra. Tuy nhiên, có khoảng từ 20-25% phụ nữ bị khởi phát tiểu đường tuýp 2 một thời gian sau đó, đặc biệt ở những người phải cần đến insulin liệu pháp để điều trị tăng đường huyết trong khi mang thai hoặc những người vẫn còn quá cân sau khi sinh. Nhũng bệnh nhân bị tiểu đường do thai kỳ thường được yêu cầu thực hiện xét nghiệm về độ dung nạp glucose bằng đường uống khoảng 6 tuần sau khi sinh để xem xét tình trạng tiểu đường của họ có tiếp tục tồn tại sau khi sinh hay không, hoặc nếu thấy có bất kỳ dấu hiệu nào (VD rối loạn dung nạp glucose) thì có thể đây là bằng chứng về yếu tố nguy cơ khởi phát tiểu đường của bệnh nhân.

Tiểu đường thứ phát thường có hiện tượng tăng đường huyết là do hậu quả của bệnh lý khác. Tiểu đường thứ phát thường khởi phát khi mô tụy chịu trách nhiệm sản xuất insulin bị phá hủy do một số bệnh lý như viêm tụy mạn tính (tụy bị viêm do độc chất ví dụ như uống rượu quá nhiều), chấn thương, phẩu thuật cắt bỏ tụy. Tiểu đường cũng có thể do các rối loạn về nội tiết tố (hormone) khác như sản xuất quá mức hormone tăng trưởng (bệnh to đầu chi) và hội chứng Cushing. Ở bệnh to đầu chi, khối u của tuyến yên ở đáy não sẽ gây nên sản xuất quá mức hormone tăng trưởng, dẫn đến tăng đường huyết. Trong hội chứng Cushing, tuyến thượng thận (tuyến trên thận) sản xuất quá mức cortisol, một chất cũng làm tăng đường huyết.

Ngoài ra, cũng có một vài thuốc có thể làm giảm khả năng kiểm soát đường huyết hoặc "làm lộ diện" những dạng tiểu đường tiềm ẩn. Thường thấy nhất ở dạng này là việc sử dụng những thuốc nhóm steroid (VD prednisone) và những thuốc được dùng để điều trị nhiễm HIV (AIDS).

Triệu chứng của tiểu đường là gì?

Các triệu chứng sớm của tiểu đường không được điều trị có liên quan đến hiện tượng tăng đường huyết và mất glucose trong nước tiểu. Việc glucose hiện diện nhiều trong nước tiểu sẽ làm gia tăng thể tích nước tiểu và dẫn đến hiện tượng mất nước. Điều này sẽ làm bệnh nhân khát và uống nhiều nước. Việc insulin không thể thực hiện chức năng một cách bình thường sẽ ảnh hưởng đến quá trình chuyển hóa protein, mỡ và carbohydrate. Insulin là một hormone đồng hóa, giúp thúc đẩy dự trữ mỡ và protein. Việc thiếu hụt insulin tuyệt đối hoặc tương đối cuối cùng sẽ gây sụt cân mặc dù người bệnh ăn vẫn ngon miệng. Một số bệnh nhân tiểu đường không điều trị sẽ than mệt, buồn nôn, nôn. Bệnh nhân tiểu đường dễ bị nhiễm trùng bàng quang, da, âm đạo. Đường huyết dao động có thể gây mờ mắt, đặc biệt khi tăng cao quá mức có thể gây lơ mơ hoặc hôn mê.

Tiểu đường được chẩn đoán như thế nào?

Xét nghiệm đường huyết đói thường được sử dụng để chẩn đoán tiểu đường. Xét nghiệm này tiện lợi và dễ tiến hành. Sau khi bệnh nhân nhịn đói suốt đêm (ít nhất là 8 tiếng), một mẩu máu sẽ được lấy và chuyển đến phòng xét nghiệm để đọc kết quả. Xét nghiệm này cũng có thể được thực hiện tại phòng mạch bác sĩ hoặc tại nhà nhờ vào máy đo đường huyết cá nhân.

Nồng độ glucose trong huyết tương khi đói bình thường dưới 100mg/dL. Nếu nồng độ này vượt quá 126 mg/dL trong hai lần xét nghiệm hay nhiều hơn vào những ngày khác nhau thì chẩn đoán là bệnh tiểu đường.

Nếu nồng độ glucose trong huyết tương cao hơn 100mg/dL nhưng vẫn nằm trong giới hạn từ 100-126 mg/dL thì được gọi là rối loạn dung nạp glucose. Mặc dù rối loạn dung nạp glucose chưa được chẩn đoán là tiểu đường nhưng cần được chú trọng đặc biệt vì yếu tố nguy cơ của nó.

  • Xét nghiệm dung nạp glucose bằng đường uống:

Mặc dù không còn được sử dụng thường quy, nhưng xét nghiệm dung nạp glucose uống vẫn là một tiêu chuẩn vàng để chẩn đoán tiểu đường tuýp 2. Nó vẫn còn được sử dụng rộng rãi để chẩn đoán tiểu đường do thai kỳ. Đối với xét nghiệm dung nạp glucose uống, bệnh nhân phải nhịn đói qua đêm (ít nhất trong 8 tiếng nhưng không được lâu hơn 16 tiếng). Sau đó, đầu tiên bệnh nhân được lấy máu để xét nghiệm đường huyết đói, kế đến bệnh nhân sẽ được uống 75g glucose (100g ở phụ nữ mang thai). Hiện có một số phương pháp được các bác sĩ sản khoa áp dụng nhưng phương pháp được mô tả ở đây là đúng tiêu chuẩn. Glucose được bệnh nhân uống luôn là chất lỏng và có vị ngọt. Các mẩu máu sẽ được lấy vào những khoảng thời gian đặc biệt để đo nồng độ glucose.

Để xét nghiệm cho kết quả chính xác, bệnh nhân phải ở trong tình trạng sức khỏa tốt (không có bất kỳ bệnh lý nào khác, thậm chí chỉ là cảm lạnh). Ngoài ra, bệnh nhân nên sinh hoạt bình thường và không được uống những thuốc có ảnh hưởng đến đường huyết. Trong vòng 3 ngày trước khi làm xét nghiệm, bệnh nhân không được ăn chế độ ăn nhiều carbohydrate (150-200g/ngày). Vào buổi sáng của ngày xét nghiệm, bệnh nhân không được hút thuốc hoặc uống cafe.

Xét nghiệm dung nạp glucose uống cổ điển là đo nồng độ glucose máu 5 lần trong một quãng thời gian kéo dài 3 giờ. Một số bác sĩ tiến hành đơn giản là đầu tiên lấy một mẫu máu chuẩn (trước khi uống glucose) để đo đường huyết đói, rồi sau khi bệnh nhân uống glucose 2 giờ thì lấy thêm một mẫu máu nữa. Ở người không bị tiểu đường, nồng độ glucose sẽ tăng lên rồi sau đó giảm đi nhanh chóng. Còn ở bệnh nhân tiểu đường thì nồng độ glucose tăng cao hơn bình thường nhưng không thể giảm nhanh.

Những người có nồng độ glucose trong máu nằm giữa giá trị bình thường và tiểu đường thì gọi là rối loạn dung nạp glucose (suy giảm khả năng dung nạp glucose). Những người bị rối loạn dung nạp glucose mặc dù không bị tiểu đường nhưng có yếu tố nguy cơ cao trong diễn tiến dẫn đến tiểu đường. Mỗi năm tại Mỹ, có một tỷ lệ dao động từ 1-5% những người bị rối loạn dung nạp glucose sau đó sẽ khởi phát thành tiểu đường. Giảm cân và tập thể dục có thể giúp nồng độ glucose máu ở những người bị rối loạn dung nạp glucose trở về giá trị bình thường. Một số bác sĩ lâm sàng có khuynh hướng sử dụng thuốc như metformin (Glucophage) để giúp phòng tránh hoặc trì hoãn việc khởi phát thành tiểu đường thật sự. Một số nghiên cứu gần đây cho thấy bản thân rối loạn dung nạp glucose có thể là một yếu tố nguy cơ trong việc khởi phát bệnh tim. Trong cộng đồng Y khoa, hầu hết các bác sĩ lâm sàng đều hiểu rõ rằng rối loạn dung nạp glucose không chỉ là dấu chỉ của bệnh tiểu đường mà bản thân nó còn là một thực thể bệnh lý lâm sàng cần được điều trị và theo dõi.

  • Đánh giá kết quả xét nghiệm dung nạp glucose đường uống:

Xét nghiệm dung nạp glucose bằng đường uống có thể cho ra một trong những chẩn đoán dưới đây:

    • Đáp ứng bình thường: Khi nồng độ glucose máu tại thời điểm 2 giờ dưới 140mg/dL, và tất cả các giá trị trong khoảng thời điểm từ 0-2 giờ đều dưới 200mg/dL

    • Rối loạn dung nạp glucose: Khi nồng độ glucose máu trong huyết tương khi đói dưới 126mg/dL và nồng độ glucose máu tại thời điểm 2 giờ nằm trong khoảng từ 140-199mg/dL.

    • Tiểu đường: Khi hai xét nghiệm đường huyết đói vào những ngày khác nhau vượt quá 126 mg/dL (xem phần chẩn đoán)

    • Tiểu đường do thai kỳ: Khi có bất kỳ 2 trong số các tiêu chuẩn sau:

      • Glucose huyết tương khi đói (đường huyết đói) >95mg/dL
      • Nồng độ glucose tại thời điểm 1 giờ >180mg/dL
      • Nồng độ glucose tại thời điểm 2 giờ >155mg/dL
      • Nồng độ glucose tại thời điểm 3 giờ >140mg/dL

Tại sao cần kiểm tra đường huyết tại nhà?

Kiểm tra đường huyết tại nhà là một phần quan trọng của việc kiểm soát đường huyết. Một mục tiêu quan trọng của điều trị tiểu đường là giữ đường huyết ở mức gần với giới hạn bình thường từ 70-120mg/dL trước khi ăn và thấp hơn 140mg/dL tại thời điểm 2 giờ sau khi ăn. Đường huyết luôn được kiểm tra trước, sau khi ăn và lúc đi ngủ. Khi sử dụng máy đo đường huyết cá nhân, giọt máu được tạo ra nhờ thiết bị kim bấm chích vào đầu ngón tay, sau đó đặt giọt máu vào que thử và chờ máy đọc kết quả. Trên thị trường hiện nay có nhiều loại máy đo đường huyết cá nhân như Accu-Chek Advantage, One Touch Ultra, Sure Step và Freestyle. Mỗi loại máy đều có những ưu nhược điểm riêng (lấy ít máu, màn hình hiển thị lớn, thời gian đọc kết quả nhanh ...). Những kết quả xét nghiệm này có thể giúp bệnh nhân tự điều chỉnh thuốc, chế độ ăn, hoạt động thể chất...

Có một vài sự phát triển thật thú vị về lĩnh vực theo dõi đường huyết. Hiện tại có ít nhất 3 bộ cảm biến glucose liên tục đang được xem xét để chấp thuận tại Hoa Kỳ (Dexcom, Medtronic, Navigator). Những hệ thống cảm biến glucose liên tục thế hệ mới này bao gồm một ống thông được đặt ngay dưới da vùng bụng hoặc vùng cánh tay. Ống thông này cho phép thường xuyên lấy mẫu máu để đo nồng độ glucose trong máu. Gắn liền với thiết bị này là bộ phận dẫn truyền có nhiệm vụ gởi dữ liệu đến một thiết bị giống như máy nhắn tin. Thiết bị này có màn hình hiển thị cho phép người mang có thể xem không những kết quả đường huyết hiện tại mà còn cả biểu đồ về xu hướng của đường huyết. Ở một số thiết bị, tốc độ thay đổi đường huyết cũng được hiển thị, và cả hệ thống báo động khi đường huyết quá cao hoặc quá thấp. Một vài model có khả năng báo động nếu tốc độ thay đổi đường huyết cho thấy người mang máy có dấu hiệu nguy cơ bị hạ hoặc tăng đường huyết đột ngột. Phiên bản Medtronic còn được thiết kế để có thể cùng sử dụng với bơm insulin.

  • Hemoglobin A1c (HbA1c)

Glucose trong máu có thể gắn kết với hemoglobin (phần mang oxy) của hồng cầu để tạo nên một phức hợp gọi là HbA1c (Glycosylated hemoglobin). Một khi glucose gắn kết với hemoglobin , nó sẽ ở đó và tồn tại đến hết đời sống của hồng cầu kéo dài khoảng 3 tháng. Như vậy nếu nồng độ glucose trong máu càng cao thì lượng glucose gắn vào hemoglobin của hồng cầu càng nhiều, và như vậy nồng độ HbA1c cũng sẽ gia tăng. Xét nghiệm nồng độ HbA1c giúp đánh giá lượng glucose gắn vào hemoglobin của hồng cầu, và từ đó đánh giá được nồng độ glucose trong máu. Vì đời sống hồng cầu chỉ tồn tại trong vòng 3 tháng nên giá trị HbA1C sẽ phản ánh nồng độ glucose trong máu trung bình trong vòng 3 tháng trước đó.

Trong hầu hết các phòng xét nghiệm, giá trị bình thường của HbA1c từ 4 -5,9%. Ở những bệnh nhân được kiểm soát đường huyết kém thì HbA1c có thể lên đến 8% hoặc cao hơn. Ngược lại, ở những bệnh nhân được kiểm soát đường huyết tốt thì HbA1c dưới 7% (tối ưu là <6,5%).

Có một mối quan hệ trực tiếp giữa nồng độ HbA1c với nồng độ đường huyết được liệt kê trong bảng dưới đây. Mặc dù không có tài liệu hướng dẫn nào đề nghị việc lấy HbA1c làm tiêu chuẩn để tầm soát tiểu đường nhưng các bác sĩ lâm sàng có thể tham khảo để đánh giá một người bị bệnh tiểu đường hay không khi có HbA1c tăng cao.

HbA1c (%) Đường huyết trung bình (mg/dL)
6 135
7 170
8 205
9 240
10 275
11 310
12 375
Hiệp hội Tiểu đường Hoa Kỳ (ADA) đề nghị nên kiểm soát HbA1c < 7%
Hiệp hội Bác sĩ Nội tiết Lâm sàng Hoa Kỳ (AACE) đề nghị HbA1c <6,5%

Một số công trình nghiên cứu cho thấy cứ HbA1c giảm 1% thì yếu tố nguy cơ của các bệnh lý mạch máu nhỏ (bệnh vi mạch) giảm đi 10%. Vì vậy nếu một bênh nhân tiểu đường có HbA1c từ 10,7% giảm xuống còn 8,2% thì mặc dù chưa đạt đến mục tiêu điều trị của HbA1c nhưng nguy cơ về những biến chứng do bệnh vi mạch giảm đi 20%. HbA1c càng gần giới hạn bình thường thì nguy cơ xãy ra các biến chứng của tiểu đường do các bệnh lý vi mạch càng giảm. Các dữ liệu nghiên cứu còn cho thấy cứ HbA1c giảm đi 1% thì nguy cơ về bệnh lý các mạch máu lớn giảm đi 24%.

Cần lưu ý rằng có một số trường hợp có thể làm cho giá trị của HbA1c không chính xác. VD như bệnh thiếu máu thì số lượng hồng cầu thấp sẽ làm cho nồng độ HbA1c thấp giả tạo. Tình trạng này cũng xãy ra tương tự đối với những bệnh nhân bị bệnh hồng cầu hình liềm hoặc các bệnh lý về hemoglobin khác.

Các biến chứng cấp tính của tiểu đường là gì?

  1. Tăng đường huyết quá cao do thiếu hụt tuyệt đối hoặc tương đối insulin
  2. Hạ đường huyết bất thường do sử dụng quá liều insulin hoặc các thuốc hạ đường huyết khác

Insulin là sống còn đối với bệnh nhân tiểu đường tuýp 1. Họ không thể sống mà không có nguồn insulin ngoại sinh. Nếu không có insulin, bệnh nhân tiểu đường tuýp 1 sẽ bị tăng đường huyết quá cao. Điều này sẽ làm gia tăng nồng độ glucose trong nước tiểu, và sẽ dẫn đến mất nước và điện giải. Sự thiếu hụt insulin còn làm mất khả năng dự trữ mỡ và protein trong khi lại làm gia tăng sự phân giải mỡ và protein hiện có. Sự rối loạn điều hòa này sẽ tạo ra một quá trình gọi là nhiễm thể ketone và các thể ketone này sẽ được phóng thích vào máu và làm cho máu trở nên acid hóa. Hiện tượng này còn được gọi là toan chuyển hóa do thể ketone ở bệnh tiểu đường. Các triệu chứng của toan chuyển hóa do thể ketone gồm buồn nôn, nôn và đau bụng. Nếu không điều trị kịp thời, những bệnh nhân này có thể sẽ nhanh chóng bị sốc, hôn mê và thậm chí tử vong.

Toan chuyển hóa do thể ketone ở bệnh tiểu đường có thể còn do nhiễm trùng, stress hoặc chấn thương mà tất cả đều có hiện tượng tăng nhu cầu insulin. Ngoài ra, việc bệnh nhân quên hoặc bỏ lỡ liều insulin đương nhiên sẽ là một yếu tố nguy cơ để khởi phát toan chuyển hóa do thể ketone. Điều trị cấp cứu đối với tình trạng này bao gồm truyền dịch, điện giải qua đường tĩnh mạch và tiêm insulin. Mất nước có thể rất nặng, và có thể bệnh nhân cần truyền dịch với thể tích lên đến 6-7 lít khi có biểu hiện của toan chuyển hóa do thể ketone. Có thể sử dụng kháng sinh để điều trị nhiễm trùng. Nồng độ đường huyết, sự sản xuất thể ketone, toan chuyển hóa, mất nuớc có thể đảo ngược nhanh chóng và bệnh nhân sẽ hồi phục đáng kể.

Ở bệnh nhân tiểu đường tuýp 2, stress, nhiễm trùng và sử dụng các thuốc (như corticosteroides) có thể làm tăng đường huyết nặng. Cùng với hiện tượng mất nước, tăng đường huyết nặng ở bệnh nhân tiểu đường tuýp 2 có thể làm gia tăng áp suất thẩm thấu của máu. Điều này có thể gây hôn mê (hôn mê do tăng áp suất thẩm thấu). Giống như toan chuyển hóa do thể ketone ở tiểu đường thì hôn mê do tăng áp suất thẩm thấu cũng là một tình trạng cấp cứu. Điều trị cấp cứu bằng truyền dịch, điện giải và insulin là biện pháp quan trọng để đảo ngược tình trạng gia tăng áp suất thẩm thấu. Không giống như bệnh nhân tiểu đường tuýp 1, bệnh nhân tiểu đường tuýp 2 thường không khởi phát tình trạng toan chuyển hóa do nhiễm ketone một cách đơn độc trên nền của tiểu đường. Nguyên nhân là phần lớn những bệnh nhân tiểu đường tuýp 2 thường xãy ra ở ngưới lớn tuổi và có thể có những bệnh lý khác đi kèm và nhìn chung, tình trạng bệnh ở những bệnh nhân này thường nặng nề hơn. Tỷ lệ biến chứng và tử vong bởi hôn mê do tăng áp suất thẩm thấu thường cao hơn so với toan chuyển hóa do thể ketone.

Hạ đường huyết là tình trạng giảm đường huyết một cách bất thường. Ở bệnh nhân tiểu đường, nguyên nhân dẫn đến tình trạng này thường gặp nhất là do sử dụng quá liều insulin hoặc những thuốc hạ đường huyết khác khi bệnh nhân không ăn hoặc ăn trể. Hạ đường huyết do sử dụng quá liều insulin thì được gọi là phản ứng insulin. Thỉnh thoảng hạ đường huyết còn có thể do ăn uống không đầy đủ hoặc hoạt động thể chất gắng sức quá mức và đột ngột.

Đường huyết đóng vai trò quan trọng để các tế bào não thực hiện đúng chức năng. Do đó hạ đường huyết có thể gây nên các triệu chứng trên hệ thần kinh trung ương như hoa mắt, lú lẫn, yếu và rung. Mức độ hạ đường huyết đến mức đủ gây nên các triệu chứng thì khác nhau ở mỗi người. Tuy nhiên, nếu đường huyết hạ xuống đến 65mg/dL thì các triệu chứng chắc chắn sẽ xuất hiện. Nếu không được điều trị thì hã đường huyết nặng có thể dẫn đến hôn mê, co giật và nếu nặng hơn có thể gây tổn thương não không hồi phục. Bệnh cảnh này có thể xãy ra khi đường huyết giảm xuống khoảng <40mg/dL.

Điều trị hạ đường huyết bao gồm uống những gì có đường mà được hấp thu nhanh như nước cam, nước ngọt (phải là loại có chứa đường) hoặc viên nén chứa glucose với liều từ 15-20mg/lần. Thậm chí thể bỏ miếng bánh nhỏ vào bên trong má cũng có hiệu quả trong trường hợp bệnh nhân không thể ăn hay uống được. Nếu bệnh nhân hôn mê, glucagon sẽ được sử dụng để tiêm bắp.

Glucagon có thể làm phóng thích glucose từ gan. Glucagon là chất có thể cứu sống bệnh nhân và mỗi bệnh nhân có tiền sử hạ đường huyết (đặc biệt là do insulin) thì nên trang bị một bộ dụng cụ glucagon. Gia đình và bạn bè của người bệnh tiểu đường nên được huấn luyện để biết cách tiêm glucagon khi cần thiết bởi vì bệnh nhân rõ ràng là không thể tự làm được điều này trong trường hợp khẩn cấp.

Các biến chứng mạn tính của tiểu đường là gì?

Những biến chứng này thường liên quan đến bệnh lý mạch máu thường được phân loại là bệnh lý ở mạch máu nhỏ như các biến chứng về mắt, thận, thần kinh (bệnh vi mạch) và bệnh lý ở mạch máu lớn như các mạch máu ở tim. Tiểu đường thường thúc đẩy tình trạng xơ vữa động mạch ở những động mạch lớn, gây nên bệnh lý động mạch vành ở tim (đau ngực, nhồi máu cơ tim), đột quị, đau ở chi dưới do thiếu cung cấp máu (đau cách hồi).

  • Các biến chứng ở mắt

Biến chứng phổ biến tại mắt ở bệnh tiểu đường được gọi là bệnh võng mạc do tiểu đường. Bệnh võng mạc do tiểu đường thường xuất hiện ở bệnh nhân mắc bệnh tiểu đường trong vòng ít nhất là 5 năm. Những mạch máu nhỏ bị tổn thương nằm phía sau mắt sẽ làm thoát protein và máu tại võng mạc. Bệnh lý ở những mạch máu nhỏ này cũng sẽ tạo nên những túi phình nhỏ và những mạch máu mới và giòn (gọi là hiện tượng tái phân bố vi mạch). Hiện tượng xuất huyết ở những mạch máu mới và giòn này sẽ dẫn đến sẹo võng mạc và bong võng mạc, do đó sẽ làm giảm thị lực.

Để điều trị bệnh lý võng mạc do tiểu đường, tia laser được sử dụng để phá hủy và ngăn ngừa sự tái phát của túi phình nhỏ và những mạch máu mới và giòn. Khoảng 50% bệnh nhân tiểu đường sẽ khởi phát bệnh lý võng sau khi mắc bệnh trong vòng 10 năm, và sẽ là 80% nếu mắc bệnh trong vòng 15 năm. Nếu đường huyết hoặc bệnh cao huyết áp đi kèm được kiểm soát kém thì các bệnh lý võng mạc do tiểu đường sẽ nặng nề hơn.

Đục thủy tinh thể và cườm nước (glaucoma) cũng thường gặp trong bệnh tiểu đường. Một điểm cần lưu ý rằng thủy tinh thể trong mắt có thể để cho nước thấm qua. Do đó nếu nồng độ đường biến thiên quá nhiều thì thủy tinh thể sẽ co lại hay phồng lên tùy theo thể tích dịch. Hậu quả là rất thường gặp hiện tượng suy giảm thị lực ở những bệnh nhân có đường huyết được kiểm soát kém. Những bệnh nhân này thường rất nãn lòng khi phải luôn thay đổi các cặp kính mới, hiện tượng này sẽ được cải thiện khi đường huyết được kiểm soát tốt. Do đó cần phải đánh giá chính xác hơn về loại kính thuốc thích hợp ở những đối tượng bệnh nhân này.

  • Tổn thương thận

Tổn thương thận ở bệnh nhân tiểu đường còn được gọi là bệnh thận do tiểu đường. Khởi phát và diễn tiến của bệnh thận thì rất khác nhau. Đầu tiên, những mạch máu nhỏ tại thận bị tổn thương sẽ làm thoát protein vào nước tiểu. Sau đó, thận mất dần khả năng thanh lọc máu. Sự tích tụ nhiều sản phẩm đào thải có độc tính sẽ phải cần đến giải pháp là lọc máu. Lọc máu là việc sử dụng một chiếc máy để thực hiện chức năng như của thận là thanh lọc và làm sạch máu. Ở những bệnh nhân không muốn lọc máu lâu dài thì giải pháp ghép thận có thể được xem xét.

Diễn tiến bệnh thận ở bệnh nhân có thể bị chậm lại bằng cách kiểm soát tốt bệnh cao huyết áp, và điều trị tích cực tình trạng tăng đường huyết. Các thuốc thuộc nhóm ức chế men chuyển hoặc ức chế thụ thể beta được sử dụng để điều trị cao huyết áp có thể mang lại lợi ích cho bệnh thận ở những bệnh nhân tiểu đường.

  • Tổn thương thần kinh

Tổn thương thần kinh trong bệnh tiểu đường còn được gọi là bệnh thần kinh do tiểu đường và cũng do bênh lý ở các mạch máu nhỏ. Nguyên nhân là do máu lưu thông đến các dây thần kinh giảm đi, làm cho dây thần kinh bị tổn thương và chết. Triệu chứng của tổn thương thần kinh do tiểu đường là bệnh nhân bị tê, cảm giác nóng rát, đau ở bàn chân và chi dưới. Khi tổn thương thần kinh diễn tiến đến mức độ mất hoàn toàn cảm giác của bàn chân thì bệnh nhân lúc này sẽ không còn cảm thấy bị đau hay tổn thương nữa, và do đó sẽ không bảo vệ bàn chân đúng cách. Mang giày hay những biện pháp bảo vệ khác nên được thực hiện càng nhiều càng tốt. Những tổn thương ở da dường như rất nhỏ cũng cần được quan tâm đúng mức để tránh những nhiễm trùng nghiêm trọng về sau. Tổn thương ở bàn chân của bệnh nhân tiểu đường thuờng khó chữa lành vì tuần hoàn máu đến nơi này đã bị kém đi (thường được gọi là bàn chân tiểu đường). Thỉnh thoảng những tổn thương rất nhỏ ở bàn chân có thể dẫn đến nhiễm trùng nặng, loét hoặc thậm chí hoại tử. Một khi bị hoại tử thì cần phải tiến hành phẩu thuật cắt bỏ các ngón chân, bàn chân hoặc các bộ phận bị nhiễm trùng.

Tổn thương thần kinh còn có thể ảnh hưởng đến những dây thần kinh đóng vai trò quan trọng trong sự cương dương vật, và sẽ gây ra tình trạng rối loạn cương dương hoặc bất lực. Rối loạn cương dương còn do lưu thông máu đến dương vật bị kém do các bệnh lý vi mạch ở bệnh tiểu đường.

Tổn thương thần kinh ở bệnh tiểu đường còn tác động đến dây thần kinh ở dạ dày và ruột gây buồn nôn, sụt cân, tiêu chảy và các triệu chứng khác của liệt dạ dày (việc đẩy thức ăn từ dạ dày xuống ruột non bị trì trệ do co thắt của cơ dạ dày không hiệu quả).

Đau trong tổn thương thần kinh có thể đáp ứng khi điều trị bằng gabapentin (Neurontin), phenytoin (Dilantin), carbamazepine (Tegretol), desipramine (Norpraminine), amitriptyline (Elavil), hoặc capsaicin thoa ngoài da (chiết xuất của tiêu). Neurontin, Dilantin và Tegretol là những thuốc điều trị động kinh. Elavil và Norpraminine là những thuốc dùng để điều trị trầm cảm. Mặc dù những thuốc này chưa được Cục quản lý Thực phẩm và Dược phẩm Hoa Kỳ (FDA) chấp thuận để điều trị đau trong tổn thương thần kinh do bệnh tiểu đường nhưng chúng vẫn được các bác sĩ lâm sàng sử dụng rộng rãi. Đau trong tổn thương thần kinh do tiểu đường có thể cải thiện khi đường huyết được kiểm soát tốt hơn mặc dù diễn tiến của loại đau này không phải lúc nào cũng liên quan chặt chẽ đến việc kiểm soát đường huyết. Gần đây có một số thuốc điều trị đau do tổn thương thần kinh xuất hiện trên thị trường. Pregabalin (Lyrica) và duloxetin (Cymbalta) là những thuốc mới được sử dụng để điều trị bệnh lý thần kinh do tiểu đường.

Cần phải làm gì để làm chậm các biến chứng của tiểu đường?

Các công trình nghiên cứu trên thế giới cho thấy việc kiểm soát tăng cường và chặt chẽ tình trạng tăng đường huyết ở bệnh nhân tiểu đường tuýp 1 và tiểu đường tuýp 2 có thể làm giảm các biến chứng của bệnh lý tại thận, thần kinh, võng mạc, và có thể làm giảm đi tần suất khởi phát và độ nặng của các bệnh lý mạch máu lớn. Kiểm soát chặt chẽ cùng với điều trị tăng cường có nghĩa là đạt được nồng độ đường huyết khi đói từ 70-120mg/dL, đường huyết sau ăn dưới 160mg/dL và HbA1c gần với giá trị bình thường.

Nghiên cứu ở bệnh nhân tiểu đường tuýp 1 cho thấy ở những bệnh nhân được điều trị chặt chẽ thì bệnh mắt do tiểu đường giảm 76%, bệnh thận giảm 54% và bệnh thần kinh giảm 60%. Nghiên cứu cũng cho thấy tiểu đường tuýp 1 có liên quan đến gia tăng bệnh tim. Tuy nhiên, cái giá của việc kiểm soát đường huyết chặt chẽ là tỷ lệ hạ đường huyết bất thường (do sử dụng thuốc điều trị tiểu đường) lại tăng lên gấp từ 2 đến 3 lần. Vì vậy, việc kiểm soát đường huyết chặt chẽ và đưa về giá trị từ 70-120mg/dL không nên áp dụng ở trẻ em dưới 13 tuổi, bệnh nhân từng bị hạ đường huyết nặng, bệnh nhân không chú ý đến việc mình từng bị hạ đường huyết hay chưa, bệnh nhân có biến chứng do tiểu đường đã tiến triển từ lâu. Để đạt được mức kiểm soát đường huyết tối ưu mà có thể tránh được nguy cơ hạ đường huyết tiềm ẩn, thì bệnh nhân tiểu đường tuýp 1 phải được theo dõi đường huyết ít nhất 4 lần mỗi ngày và tiêm insulin ít nhất 3 lần mỗi ngày. Ở bệnh nhân tiểu đường tuýp 2, việc kiểm soát tốt đường huyết cũng có những lợi ích tương tự trên các bệnh lý về thận, mắt, thần kinh và mạch máu.

Điều trị tiểu đường như thế nào?

 Về trang chủ    Bản để in
Các bài viết cùng chuyên khoa [Nội tiết & Chuyển hóa] trong chuyên mục [Từ điển Y khoa] :
  • Điều trị hội chứng cai rượu [3/11/2013 | 9:22 GMT+7]
  • Biến chứng hạ đường máu ở bệnh nhân đái tháo đường: Nguy hiểm! [4/8/2011 | 7:29 GMT+7]
  • Tác hại của thiếu iốt [4/10/2010 | 0:21 GMT+7]
  • Khi tuyến thượng thận suy  [18/4/2010 | 14:04 GMT+7]
  • Hướng mới trong điều trị bệnh đái tháo đường [4/4/2010 | 7:01 GMT+7]
  • Tự đo đường huyết: dễ làm cũng dễ sai [4/3/2010 | 7:05 GMT+7]
  • Biến chứng bàn chân ở bệnh nhân đái tháo đường [3/3/2010 | 7:10 GMT+7]
  • "Đề kháng insulin" là gì? [30/12/2009 | 7:35 GMT+7]
  • Ba phương pháp làm bướu giáp đơn thuần nhỏ lại [24/12/2009 | 7:13 GMT+7]
  • Đái tháo đường thể... 3! [22/12/2009 | 7:13 GMT+7]
  • Điều gì xảy ra nếu thiếu hoặc thừa iode? [6/11/2009 | 0:18 GMT+7]
  • Bệnh cường giáp có thể gây biến chứng nặng ở tim [15/10/2009 | 7:38 GMT+7]
  • Bướu giáp đơn thuần hay bướu giáp nhân? [1/5/2009 | 19:06 GMT+7]
  • Phòng, trị bệnh đái tháo đường  [3/3/2009 | 7:18 GMT+7]
  • Tiểu nhiều chưa hẳn là tiểu đường [28/2/2009 | 12:02 GMT+7]
  • Hạ đường huyết - biến chứng bỏ quên ở bệnh nhân đái tháo đường [22/2/2009 | 13:06 GMT+7]
  • Đái tháo đường và rối loạn mật độ xương [20/10/2008 | 13:17 GMT+7]
  • Đái tháo đường và bệnh mắt [20/10/2008 | 10:42 GMT+7]
  • Bệnh đái tháo đường và các biến chứng tim mạch [18/10/2008 | 11:19 GMT+7]
  • Suy tuyến cận giáp: Nguyên nhân gây hạ calci máu [17/10/2008 | 19:12 GMT+7]

Quảng cáo


TIỆN ÍCH ONLINE