Loãng xương

31/05/2020 11:06 GMT+7

Loãng xương hiện nay là một vấn đề y tế và xã hội của mọi quốc gia do tần suất loãng xương trong cộng đồng tương đương với tần suất mắc bệnh tim mạch và ung thư. Hiện nay có khoảng 1/3 số phụ nữ và 1/8 số nam giới trên 50 tuổi có nguy cơ loãng xương.

Loãng xương diễn biến thầm lặng, nhưng có thể gây nên hậu quả nặng nề như gãy xương, từ đó người bệnh sẽ bị tàn phế, mất khả năng lao động, giảm tuổi thọ...

Loãng xương là gì?

Về mặt y học, loãng xương là một tình trạng rối loạn chuyển hóa của bộ xương làm giảm sức mạnh của xương dẫn đến làm tăng nguy cơ gãy xương. Sức mạnh của xương được phản ánh thông qua hai yếu tố: khối lượng xương và chất lượng xương.

Đo mật độ xương sẽ cho ta biết lượng chất khoáng trong 1 đơn vị diện tích hoặc thể tích của xương. Còn chất lượng xương được đánh giá bởi các thông số: cấu trúc của xương, tốc độ chuyển hóa của xương, độ khoáng hóa, mức độ tổn thương tích lũy, tính chất của các chất cơ bản của xương.

Nói một cách dễ hiểu, bệnh loãng xương, hay còn gọi là bệnh giòn xương hoặc xốp xương, là hiện tượng xương liên tục mỏng dần và mật độ chất trong xương ngày càng thưa dần, điều này khiến xương giòn hơn, dễ tổn thương và dễ bị gãy dù chỉ bị chấn thương nhẹ.

Loãng xương là nguyên nhân chính gây ra gãy xương ở phụ nữ sau mãn kinh và người già. Gãy xương do loãng xương có thể gặp ở bất cứ xương nào, tuy nhiên hay gặp ở xương cột sống, xương đùi, xương cổ tay. Một số xương bị gãy có thể không lành lại được, trong đó xương cột sống và xương đùi là những xương lành lại rất khó khăn, trong hầu hết trường hợp phải phẫu thuật với chi phí tốn kém.

Bệnh loãng xương tiến triển thầm lặng. Thường người bệnh chỉ cảm thấy đau mỏi người không rõ ràng, giảm dần chiều cao, gù vẹo cột sống. Đây là những biểu hiện chỉ được phát hiện sau một thời gian dài. Nhiều trường hợp chỉ phát hiện khi có những biểu hiện gãy xương.

Tình trạng loãng xương sẽ càng trở nặng hơn khi về già. Do độ tuổi này, mật độ xương không đảm bảo đủ mức cho phép để bảo đảm xương cứng chắc như lúc ở tuổi trưởng thành.

Loãng xươngSự khác biệt về cấu trúc xương của thân đốt sống ở người bình thường và bệnh nhân loãng xương. Ảnh: Mayo Clinic

Quá trình sinh lý bên trong xương diễn ra như thế nào?

Xương bình thường cần các khoáng chất để tạo thành, trong đó canxi và phospho là hai thành phần quan trọng nhất. Nếu cơ thể không nhận đủ canxi từ chế độ ăn uống, việc hình thành các mô xương và xương có thể bị ảnh hưởng.

Xương là một loại mô cơ quan luôn trong trạng thái liên tục đổi mới. Có 2 quá trình diễn ra song song tại xương:

  • Quá trình tạo xương:  Xương mới sẽ liên tục được tạo ra. Quá trình này do tế bào tạo xương hay còn gọi là tạo cốt bào đảm trách.
  • Quá trình hủy xương (mất xương): Xương cũ bị phá hủy. Quá trình này do tế bào hủy xương hay còn gọi là hủy cốt bào đảm trách.

Khi còn trẻ, cơ thể tạo ra xương mới nhanh hơn hủy xương cũ, do đó khối lượng xương sẽ tăng lên. Hầu hết mọi người đạt được khối lượng xương cao nhất vào khoảng năm 20 tuổi. Khi lớn tuổi, khối lượng xương bị mất đi nhanh hơn lượng xương được tạo ra, từ đó gây nên bệnh loãng xương.

Triệu chứng bệnh Loãng xương

Tình trạng mất xương (hay còn gọi là giảm mật độ xương) do bệnh loãng xương thường không biểu hiện triệu chứng rõ ràng. Người bệnh có thể không biết mình mắc bệnh cho đến khi xương trở nên yếu đi, dễ gãy khi gặp những sang chấn nhỏ ví dụ như trẹo chân, va đập hoặc té ngã.

Giảm mật độ xương khiến xương ở cột sống có thể bị xẹp (còn gọi là gãy lún hay lún đốt sống). Biểu hiện của tình trạng này bao gồm có cơn đau lưng cấp, giảm chiều cao, dáng đi khom và gù lưng.

Đau nhức đầu xương: một trong những triệu chứng loãng xương dễ nhận thấy nhất là cảm giác đau nhức các đầu xương, người bệnh sẽ cảm thấy mỏi dọc các xương dài, thậm chí đau nhức như bị kim chích toàn thân

Đau ở vùng xương chịu gánh nặng của cơ thể thường xuyên như: cột sống, thắt lưng, xương chậu, xương hông, đầu gối, những cơn đau lặp lại nhiều lần sau chấn thương, cơn đau thường âm ỉ và kéo dài lâu. Những cơn đau sẽ tăng lên khi vận động, đi lại, đứng ngồi lâu và sẽ thuyên giảm khi nằm nghỉ.

Đau ở cột sống, thắt lưng hoặc hai bên liên sườn, gây ảnh hưởng đến các dây thần kinh liên sườn, dây thần kinh đùi và thần kinh tọa. Những cơn đau trở nặng khi vận động mạnh hoặc bất ngờ thay đổi tư thế. Vì vậy, người có dấu hiệu bị loãng xương thường rất khó thực hiện những tư thế như cúi gập người hoặc xoay hẳn người.

Đối với những người ở lứa tuổi trung niên, loãng xương thường đi kèm với các dấu hiệu của bệnh giãn tĩnh mạch, thoái hoá khớp, cao huyết áp…

Nguyên nhân và yếu tố nguy cơ bệnh Loãng xương

Có rất nhiều yếu tố nguy cơ có thể dẫn đến bệnh loãng xương. Một số yếu tố có thể thay đổi được trong khi số khác thì không thể.

1. Những yếu tố nguy cơ không thể thay đổi như:

  • Giới tính: ở phụ nữ, đặc biệt là phụ nữ mãn kinh thì nguy cơ loãng xương tăng cao hơn hẳn so với nam giới cùng độ tuổi do tổng khối lượng xương thấp hơn.
  • Tuổi tác: độ tuổi càng cao, càng có nguy cơ loãng xương.
  • Kích thước cơ thể: những phụ nữ gầy và nhỏ con có nguy cơ bị loãng xương cao hơn.
  • Tiền sử gia đình có người từng bị loãng xương hoặc gãy xương hông
  • Mãn kinh trước 45 tuổi
  • Từng bị gãy xương: nếu bạn từng bị gãy xương thì cũng có thể có nguy cơ bị loãng xương cao hơn so với những người khác. Bởi có thể nguyên nhân khiến xương bị gãy là do mật độ xương thấp.
  • Chủng người da trắng hoặc người châu Á

2. Những yếu tố nguy cơ có thể kiểm soát được, bao gồm:

2.1 Liên quan hormone (nội tiết tố):

Hormone sinh dục:

Estrogen có tác dụng bảo vệ xương, do đó những người có nồng độ estrogen thấp sẽ có nguy cơ cao bị bệnh loãng xương. Tình trạng estrogen thấp thường gặp ở phụ nữ tuổi mãn kinh hay những phụ nữ phải cắt bỏ cả 2 buồng trứng vì một lý do nào đó. Tuy nhiên với những bạn nữ trẻ tuổi, nếu kinh nguyệt không đều cũng có thể là do nồng độ estrogen thấp, do đó cũng dễ bị loãng xương, chứ không phải đến khi mãn kinh mới bị. Cũng chính vì vậy mà bệnh loãng xương gặp ở phụ nữ nhiều hơn đàn ông.

Testosterone ở đàn ông hormone đảm nhiệm vai trò bảo vệ xương, do đó những nam giới có lượng hormone sinh dục thấp thì nguy cơ bị loãng xương sẽ cao hơn so với những người có lượng hormon sinh dục bình thường.

Hormone tuyến giáp:

Bệnh cường giáp sản sinh ra nhiều hormon tuyến giáp làm loãng xương. Hay bệnh nhân bị suy giáp phải uống thường xuyên thuốc hormone tuyến giáp cũng có thể gây loãng xương.

Các bệnh lý tăng hoạt động (cường) của tuyến cận giáp hay tuyến thượng thận cũng liên quan đến loãng xương.  

2.2 Chế độ dinh dưỡng: nếu trong chế độ dinh dưỡng hàng ngày thiếu canxi và các khoáng chất khác (vitamin D, vitamin B6, B12, vitamin K, magie, photpho,...) hay cơ thể không hấp thu được canxi vì một lý do nào đó thì sẽ dễ dàng dẫn đến bệnh loãng xương. 

2.3 Uống rượu bia: Uống quá nhiều hoặc lạm dụng rượu, cafe sẽ làm giảm sự hấp thu canxi và làm giảm khả năng sử dụng canxi của cơ thể.

2.4 Một số bệnh có thể gây loãng xương: loãng xương có thể là hậu quả của một bệnh nào đó, tình trạng này được gọi là loãng xương thứ phát.

  • Các bệnh về tiêu hóa: gây cản trở quá trình hấp thu canxi, vitamin D và các chất dinh dưỡng khác, từ đó ảnh hưởng tới việc tái tạo xương trong cơ thể.
  • Các bệnh về thận: có thể gây mất canxi, từ đó làm xáo trộn, làm mất cân bằng giữa quá trình tạo xương và quá trình hủy xương.
  • Các bệnh ung thư, Lupus, Đa u tủy… cũng có thể gây loãng xương.

2.5 Một số loại thuốc có thể gây loãng xương khi dùng lâu dài:

  • Thuốc chống co giật hoặc thuốc chống động kinh.
  • Thuốc giảm axit dịch dạ dày có aluminum.
  • Thuốc kháng đông heparin
  • Corticosteroid: Prednisone là một loại corticosteroid có thể gây mất xương rất mạnh.
  • Hormon tuyến giáp: những bệnh nhân bị suy giáp hoặc cắt tuyến giáp phải sử dụng hormon tuyến giáp, khi sử dụng quá nhiều có thể làm xương yếu đi.

2.6 Liên quan lối sống:

  • Tập luyện thể dục: nếu bạn không tập thể dục sẽ làm cho xương của bạn yếu và dễ bị loãng xương. Tập luyện thể dục thường xuyên sẽ giúp cho xương của bạn chắc khỏe, phòng ngừa được bệnh loãng xương. Những bệnh nhân nằm trên giường bệnh lâu ngày không vận động cũng có nguy cơ loãng xương.
  • Cân nặng: những người nhẹ cân có nguy cơ bị loãng xương cao hơn. Đặc biệt là những phụ nữ có thân hình nhỏ bé, xương nhỏ cần phải cẩn thận do khối lượng xương trong cơ thể thấp.
  • Hút thuốc lá: làm tăng nguy cơ loãng xương theo một vài cách: các hóa chất trong thuốc lá khiến cho cơ thể khó sử dụng canxi; đồng thời nó còn khiến cho hormone estrogen không thực hiện được nhiệm vụ của mình. Ngoài ra hút thuốc lá có thể gây ung thư phổi và nhiều bệnh lý khác.

2.7 Chán ăn tâm thần: chứng rối loạn ăn uống này có thể dẫn đến loãng xương.

Phân loại bệnh loãng xương

Theo nguyên nhân, loãng xương được chia làm hai loại: Loãng xương nguyên phát và loãng xương thứ phát:

Loãng xương nguyên phát: Là loại loãng xương không tìm thấy căn nguyên nào khác ngoài tuổi tác và hoặc tình trạng mãn kinh ở phụ nữ. Cơ chế là do quá trình lão hóa của tạo cốt bào gây nên tình trạng mất cân bằng giữa huỷ xương và tạo xương, kết quả là thiểu sản xương.

Loãng xương nguyên phát gồm 2 týp:

  • Loãng xương týp 1 (hay loãng xương sau mãn kinh): nguyên nhân là do giảm nội tiết tố estrogen, ngoài ra còn có sự giảm tiết hormon tuyến cận giáp trạng, tăng thải canxi niệu, suy giảm hoạt động của enzym 25-OH-vitamin D1-hydroxylase. Thường gặp ở phụ nữ trong độ tuổi 50 – 55, đã mãn kinh. Tổn thương chủ yếu là mất chất khoáng ở xương xốp, biểu hiện là sự lún của các đốt sống hoặc gãy xương Pouteau-Colles.
  • Loãng xương týp 2 (hay loãng xương tuổi già): Là loãng xương liên quan tới tuổi và tình trạng mất cân bằng tạo xương. Loại loãng xương này xuất hiện ở cả 2 giới nam và nữ, độ tuổi khoảng trên 70. Đặc điểm của loại loãng xương này là mất chất khoáng toàn thể cả ở xương xốp (xương bó) và xương đặc (xương vỏ). Thường là bệnh nhân hay bị gãy cổ xương đùi. Cơ chế gây loãng xương là do tình trạng giảm hấp thu canxi, giảm chức năng tạo cốt bào dẫn tới cường cận giáp thứ phát.

Loãng xương thứ phát: Là loại loãng xương tìm thấy được nguyên nhân liên quan đến một số bệnh mạn tính, liên quan đến sử dụng một số loại thuốc....

Các nguyên nhân gây loãng xương thứ phát:

  •  Bệnh nội tiết: Cường giáp, đái tháo đường, bệnh to đầu chi...
  •  Bệnh tiêu hóa: Cắt dạ dày, thiếu dinh dưỡng, bệnh gan mạn tính.
  •  Bệnh khớp: Viêm khớp dạng thấp, bệnh lý cột sống...
  •  Bệnh ung thư: Kahler...
  •  Bệnh di truyền: bệnh nhiễm sắc tố sắt...
  •  Những trường hợp sử dụng corticoid, heparin, dùng lợi tiểu kéo dài…

Các biện pháp chẩn đoán bệnh Loãng xương

Các xét nghiệm chẩn đoán loãng xương bao gồm:

Phương pháp đánh giá mật độ xương: chụp X quang để đo mật độ xương ở phần cột sống thắt lưng, vùng cổ xương đùi hoặc cổ tay. Phương pháp chụp X quang hấp thụ năng lượng kép (DEXA) là phương pháp phổ biến nhất. Đây là phương pháp không gây đau đớn và chỉ mất vài phút, cho biết lượng xương bị mất.

Xét nghiệm máu và nước tiểu: kiểm tra lượng nội tiết tố và tìm kiếm các nguy cơ làm tăng sự mất xương như sự thiếu hụt các loại vitamin hoặc khoáng chất trong cơ thể.

Thiếu xương là gì? Khác với loãng xương như thế nào?

Không giống như loãng xương, thiếu xương (hay còn gọi là mất xương) không phải là bệnh. Đây là tình trạng xương có mật độ thấp, không còn trong giới hạn bình thường nhưng chưa đủ nặng để trở thành loãng xương. Yếu tố nguy cơ quan trọng nhất của mất xương là tuổi tác. Nghĩa là càng lớn tuổi thì mật độ xương càng giảm đi. Nhiều trường hợp mất xương sẽ diến tiến đến loãng xương. Do đó, khi biết mình bị mất xương thì bạn cũng cần quan tâm, chăm sóc và nên có những biện pháp phòng ngừa loãng xương.

Các biện pháp điều trị bệnh Loãng xương

Mục tiêu cơ bản của điều trị loãng xương là ngăn chặn tình trạng gãy xương. Điều đó có thể đạt được bằng cách:

- Tăng cường khối lượng xương trong giai đoạn phát triển xương

- Ngăn chặn sự mất xương

- Phục hồi vô cơ hóa xương và cấu trúc xương đã có loãng xương.

Các biện pháp không dùng thuốc

Cần thay đổi lối sống, một số thói quen sinh hoạt là góp phần quan trọng vào việc tăng sức khỏe cho bộ xương của mỗi người.

- Tập luyện thể dục, thể thao thường xuyên:

  • Tập chịu đựng sức nặng của cơ thể: như đi bộ, tập aerobic, chạy bộ, tập dưỡng sinh... Tập thể dục, thể thao ngoài trời buổi sáng cũng là một biện pháp tăng cường vitamin D, có tác dụng làm tăng cường sự chắc khỏe của xương. Tập luyện tùy theo lứa tuổi và mức độ loãng xương. Nếu đã có loãng xương nên tập nhẹ nhàng phòng gãy xương. Cần lưu ý tránh té ngã dễ gây gãy xương.
  • Tập sức mạnh cho cơ: tập kháng lực, nhấc vật nặng phù hợp với khả năng của từng người nếu không có chống chỉ định.

- Đảm bảo chế độ ăn giàu canxi trong suốt cuộc đời. Nếu cần, có thể sử dụng cả thuốc để bổ xung canxi và vitamin D. Tránh sử dụng chất kích thích như cà phê, rượu, bia, không hút thuốc lá...

Các biện pháp dùng thuốc

1.Thuốc bổ sung bắt buộc:

+ Đảm bảo đủ tổng lượng canxi đưa vào cơ thể 1.000 – 1200mg/ ngày

+ Đảm bảo đủ tổng lượng vitamin D đưa vào cơ thể 800 – 1.000IU/ ngày.

2. Các thuốc chống hủy xương: Ức chế hoạt động của tế bào hủy xương

- Thuốc nhóm Biphosphonate: là nhóm thuốc lựa chọn đầu tiên để điều trị loãng xương ở người cao tuổi (> 60 tuổi), phụ nữ sau mãn kinh, sau dùng corticosteroid.

  • Alendronate
  • Zoledronic acid
  • Calcitonine

- Chất điều hòa chọn lọc thụ thể estrogen (SERMs): VD Raloxifen

3.Các nhóm thuốc khác:

- Nhóm thuốc tăng tạo xương và ức chế hủy xương: Strontium ranelate. Tuy nhiên, do những tác dụng phụ nghiêm trọng của thuốc trên hệ tim mạch nên hiện thuốc chưa được áp dụng điều trị rộng rãi trên lâm sàng

- Thuốc làm tăng quá trình đồng hóa: Deca-Durabulin và Durabolin

Điều trị các biến chứng

- Điều trị đau: theo bậc thang giảm đau của Tổ chức Y tế thế giới (WHO) kết hợp với thuốc calcitonine

- Gãy xương: Cần phải can thiệp ngoại khoa, ví dụ như trong các trường hợp:

  • Gãy cổ xương đùi: Thay chỏm xương đùi, thay khớp háng toàn bộ
  • Gãy lún đốt sống: Đeo nẹp, phục hồi chiều cao đốt sống bằng bơm xi măng vào thân đốt sống bị xẹp, thay đốt sống nhân tạo, kết xương… tùy theo chỉ định phù hợp.

Điều trị lâu dài

  • Theo dõi sát sự tuân thủ điều trị
  • Đo lại mật độ xương sau mỗi 1-2 năm để đánh giá kết quả điều trị
  • Bệnh nhân phải được điều trị lâu dài, thường 3 -5 năm. Sau đó đánh giá lại tổng thể tình trạng bệnh để quyết định phương hướng điều trị tiếp theo.

Loãng xương gây ra hậu quả gì?

Biến chứng nặng nề nhất của loãng xương là gãy xương. 75% trường hợp gãy cổ xương đùi xảy ra ở phụ nữ và 25% xảy ra ở nam giới trên 50 tuổi.

Gãy lún đốt sống ở người bị loãng xương

Minh họa biến chứng gãy lún đốt sống ở người bị loãng xương. Ảnh: Mayo Clinic

Gãy xương gây đau đớn, biến dạng cơ thể, mất khả năng vận động, giảm chất lượng cuộc sống, giảm tuổi thọ, tăng nguy cơ tử vong, tăng gánh nặng kinh tế cho gia đình và xã hội.

      + Gãy cổ xương đùi làm tăng nguy cơ gãy xương kế tiếp gấp 2,5 lần;
      + 25% trường hợp tử vong xảy ra trong vòng một năm sau gãy cổ xương đùi;
      + 60% bị hạn chế vận động, phải có sự trợ giúp của người khác;
      + 40% không thể tự đi lại, phải sống lệ thuộc người khác;
      + Gia tăng nguy cơ mắc các biến chứng tim mạch, nhồi  máu cơ tim, biến chứng hô hấp, viêm phổi… do phải nằm bệnh viện, do bị bất động vì gãy xương.

Gãy lún đốt sống trên X quang

Hình ảnh gãy lún đốt sống thắt lưng (thân đốt sống bị xẹp lại) trên phim X quang thẳng trước sau và bên. Ảnh: msdmanuals.com

Phòng ngừa bệnh Loãng xương

Các phương pháp sau có thể giúp ngăn chặn hoặc làm chậm tiến độ mất xương và phòng ngừa gãy xương:

  • Ăn khẩu phần giàu canxi hoặc bổ sung canxi và vitamin D mỗi ngày. Nguồn canxi trong thực phẩm bao gồm sữa, các sản phẩm từ sữa hoặc các loại thực phẩm giàu canxi như nước trái cây hoặc đậu, cá, các loại rau lá xanh.
  • Thường xuyên đo loãng xương để kiểm tra mật độ xương.
  • Tái khám đúng lịch hẹn để được theo dõi diễn tiến các triệu chứng cũng như tình trạng sức khỏe.
  • Nghe theo hướng dẫn của bác sĩ, không được tự ý uống thuốc không được chỉ định hoặc tự ý bỏ thuốc được kê toa.
  • Thường xuyên tập các bài tập chịu tải trọng và các bài tập tăng cường sức mạnh cơ bắp theo đề nghị của bác sĩ.
  • Không hút thuốc.
  • Tránh uống quá nhiều rượu: uống nhiều hơn hai ly rượu mỗi ngày có thể làm giảm khả năng hình thành xương.
  • Tránh để bị ngã

 

Ban Biên tập Giáo Dục Sức Khỏe

------------------------------------------

Nguồn:

https://www.mayoclinic.org/diseases-conditions/osteoporosis/symptoms-causes/syc-20351968

https://www.msdmanuals.com/en-pt/professional/injuries-poisoning/fractures/vertebral-compression-fractures

http://benhvien108.vn/benh-loang-xuong-osteoporosis-:-mot-so-dieu-can-biet.htm

https://www.healthline.com/health/osteoporosis#osteopenia

https://www.vinmec.com/vi/benh/loang-xuong-3027/