Trĩ

21/03/2020 16:04 GMT+7

Bệnh trĩ không chỉ đơn thuần là bệnh của tĩnh mạch. Đây là các bệnh của 1 hệ thống mạch máu từ tiểu động mạch, tĩnh mạch, thông nối động tĩnh mạch đến cơ trơn và mô liên kết được lót bởi lớp biểu mô bình thường của ống hậu môn. Đám rối tĩnh mạch nằm ở lớp dưới niêm được nâng đỡ bởi cấu trúc mô sợi đàn hồi. Tình trạng gia tăng áp lực thường xuyên như rặn đi cầu, kèm ứ máu liên tục sẽ dẫn đến phình giãn và tạo các búi trĩ vào trong lòng ống hậu môn. Đồng thời càng lớn tuổi, các cấu trúc mô liên kết nâng đỡ ngày càng bị suy yếu, các búi trĩ tụt dần ra khỏi lỗ hậu môn dẫn đến trĩ nội sa.

PHÂN LOẠI BỆNH TRĨ

Bệnh trĩ có 3 loại, bao gồm trĩ nội và trĩ ngoại và trĩ hỗn hợp (nghĩa là có một số người mắc cả 2 loại trĩ trên).

Trĩ nội: Khi búi trĩ xuất phát phía trên đường lược (đường hậu môn-trực tràng) thì được gọi là trĩ nội. Bệnh trĩ nội hiểu nôm na là búi trĩ không thấy ở phía ngoài hậu môn mà búi trĩ sẽ nằm ở phía bên trong lỗ hậu môn trực tràng người bệnh. Hiện tượng này có đôi chút khó khăn khi phát hiện dấu hiệu và triệu chứng. Tùy cấp độ bệnh nặng hay nhẹ mà một số búi trĩ có thể nằm bên trong hậu môn hay lòi hẳn ra phía bên ngoài.

Dựa vào sự tiến triển của búi trĩ còn nằm bên trong hay đã sa ra khỏi hậu môn, người ta chia trĩ nội được phân làm 4 cấp độ và có những dấu hiệu và triệu chứng nhận biết rõ ràng như sau:

 Phân độ trĩ nội

Trĩ nội độ 1: Người bệnh có những dấu hiệu như cảm thấy vướng víu trong hậu môn trực tràng, đau rát lúc đi vệ sinh, có hiện tượng máu dính trong phân hoặc giấy vệ sinh. Tuy nhiên những búi trĩ chưa hề bị sa ra phía ngoài.

Trĩ nội độ 2: Bệnh có diễn biến nặng nề hơn, các búi trĩ sa hẳn ra ngoài mỗi khi người bị bệnh đi ngoài rặn mạnh, tuy nhiên búi trĩ sẽ lại tự tụt và bên trong mà không cần phải có tác động gì. Bệnh nhân cảm thấy chỗ hậu môn trực tràng luôn trong trạng thái ẩm ướt, đau rát, ngứa xung quanh vùng hậu môn.

Trĩ nội độ 3: Lúc này những búi trĩ sẽ sa hẳn ra phái bên ngoài hậu môn và không thể tự thụt vào được. Khi này bạn phải sử dụng tay đẩy các búi trĩ vào bên trong hậu môn. Các biểu hiện dễ phát hiện là có hiện tượng đại tiện đau rát, đại tiện ra máu.

Trĩ nội độ 4: Cấp độ này là cấp độ nặng nhất của bệnh trĩ nội, búi trĩ sẽ sa hẳn ra phía ngoài hậu môn kể cả khi bạn không đi vệ sinh. Lúc này kể cả bạn dùng tay cũng không thể đẩy búi trĩ vào lại bên trong hậu môn được. Đồng thời những dấu hiệu mà bệnh nhân mắc phải ngày càng khó chịu cùng với nhưng biểu hiện nguy hiểm hơn như đại tiện ra máu tươi nhiều, xuất hiện nhiều dịch tanh, hôi, vùng hậu môn sưng đỏ, đau rát, có thể xảy ra tình trạng viêm nhiễm, lở loét và nguy hiểm hơn là có thể bị hoại tử vùng hậu môn cực kỳ nguy hiểm.

Trĩ ngoại: Khi búi trĩ xuất phát phía dưới đường lược (hay còn gọi là đường hậu môn-trực tràng). Lúc này búi trĩ được phủ bởi lớp biểu mô vảy và nằm bên dưới lớp da bao quanh hậu môn. Bệnh trĩ ngoại khác trĩ nội là ngay từ đầu các búi trĩ phát triển và hình thành ngay tại bên ngoài vùng hậu môn và bệnh nhân có thể sờ thấy bằng tay. Tuy bệnh trĩ ngoại sẽ hiếm gặp hơn bệnh trĩ nội nhưng không bởi vậy mà bệnh trĩ ngoại ít nguy hại.

Trĩ hỗn hợp: Bệnh trĩ hỗn hợp là sự kết hợp của cả bệnh trĩ nội cũng như trĩ ngoại. Nghĩa là những khóm trĩ trở thành và tiến triển tại cả phía trong ống hậu môn trực tràng và cả ở phía ngoài cửa hậu môn trực tràng của người bệnh. Bệnh trĩ nội ở độ 2 3 4 sẽ sa ra phía ngoài hậu môn dính đối với trĩ ngoại ở bên ngoài trở thành 1 đám rối tĩnh mạch lớn, búi trĩ kết hợp này gọi là bệnh trĩ hỗn hợp. Bởi một số khóm trĩ quấn vào nhau nên khi khám và chữa trị phải vô cùng khó khăn để phân biệt đâu là bệnh trĩ nội, đâu là bệnh trĩ ngoại.

YẾU TỐ NGUY CƠ GÂY BỆNH TRĨ

Táo bón, hoặc tiêu chảy làm tăng tần suất bệnh trĩ, rặn làm tăng áp lực lên các tĩnh mạch gây căng giãn và ứ máu.

Chế độ ăn ít chất xơ, làm tăng tần suất bệnh trĩ

Thừa cân và béo phì, làm gia tăng tần suất bệnh

Gia tăng áp lực ổ bụng gặp trong những người thường xuyên lao động nặng như khuân vác, vận động viên cử tạ, quần vợt,..., đứng lâu, ngồi nhiều như thư ký, thợ may, nhân viên bán hàng làm gia tăng áp lực ổ bụng cản trở sự hồi lưu máu về tim đưa đến giãn tĩnh mạch hậu môn.

U vùng tiểu khung bao gồm u đại trực tràng, u ở tử cung và thai nhiều tháng làm cản trở hồi lưu máu trở về tim gây giãn tĩnh mạch.

NGUYÊN NHÂN GÂY BỆNH TRĨ

Các tĩnh mạch xung quanh hậu môn có xu hướng căng dưới áp lực và có thể phồng lên hoặc sung huyết. Búi trĩ có thể phát triển do áp lực gia tăng ở phần dưới trực tràng do:

Rặn khi đi cầu

Ngồi lâu trên bồn cầu

Tiêu chảy hoặc táo bón mạn tính

Béo phì

Mang thai

Giao hợp qua đường hậu môn

Chế độ ăn ít chất xơ

Bệnh trĩ gia tăng theo tuổi vì cấu trúc mô nâng đỡ các tĩnh mạch ở trực tràng và hậu môn bị trở nên lỏng lẻo và nhão dần.

TRIỆU CHỨNG CỦA BỆNH TRĨ

Các dấu hiệu và triệu chứng của trĩ có thể bao gồm:

Chảy máu không kèm đau trong quá trình đi tiêu. Ban đầu có thể thấy một lượng kín đáo máu đỏ tươi trên giấy vệ sinh hoặc trong bồn cầu. Chảy máu là triệu chứng sớm nhất và thường gặp nhất. Về sau khi rặn nhiều thì máu chảy thành giọt hay thành tia. Nặng hơn là khi ngồi xổm cũng chảy máu.

Ngứa hoặc kích thích ở vùng hậu môn do dịch nhầy từ sự bài tiết của niêm mạc ống hậu môn.

Đau hoặc khó chịu, dao động từ không đau, đau ít đến rất đau do nứt hậu môn, tắc hoặc nghẹt.

Sưng vùng quanh hậu môn

Một khối nhô lên gần hậu môn, rát hoặc đau (có thể là huyết khối tại búi trĩ)

Triệu chứng trĩ thường phụ thuộc vào vị trí:

Trĩ ngoại gây khó chịu nhất, bởi vì vùng da trên búi trĩ bị kích thích và bị loét. Nếu cục máu đông hình thành bên trong búi trĩ ngoại, cơn đau có thể xuất hiện đột ngột và nghiêm trọng. Bệnh nhân có thể cảm thấy hoặc nhìn thấy một khối nhô lên quanh hậu môn. Cục máu đông có thể bị hấp thu để lại vùng da nhăn nheo gây ngứa và rát.

Trĩ nội thường không gây đau, ngay cả khi chúng xuất huyết (chảy máu). Người bệnh có thể, ví dụ, nhìn thấy máu đỏ tươi trên giấy vệ sinh hoặc nhỏ giọt vào bồn cầu nhà vệ sinh. Búi trĩ thường không thể nhìn thấy hoặc cảm nhận được, và chúng hiếm khi gây khó chịu. Trong lúc rặn đi cầu, phân khi đi ngang hậu môn có thể làm trầy xước bề mặt búi trĩ và làm chảy máu.Trĩ nội cũng có thể bị sa ra ngoài hậu môn tạo trĩ nội sa. Khi trĩ bị sa, nó có thể hấp thu một lượng nhỏ chất nhầy và phân có thể gây kích thích gây ra ngứa, đau và rát. Lau liên tục để cố gắng giảm ngứa có thể làm trầm trọng thêm vấn đề.

BIẾN CHỨNG CỦA BỆNH TRĨ

Bệnh trĩ nếu không điều trị kịp thời có thể để lại những biến chứng khó chịu, bao gồm:

Biến chứng của bệnh trĩ

Thiếu máu do mất máu mạn tính qua búi trĩ, lúc này cơ thể sẽ không có đủ số lượng hồng cầu cần thiết để thực hiện trao đổi Oxy cho tế bào. Trường hợp này hiếm xảy ra.

Nghẹt búi trĩ nếu búi trĩ sa và bị mắc kẹt làm cho mạch máu máu cung cấp cho búi trĩ bị tắc. Lúc này triệu chứng đau sẽ rất rõ ràng. Khi ấn nhẹ vào sẽ cảm giác lộm cộm do có cục máu đông.

Tắc mạch: Là tình trạng hình thành cục máu đông bên trong mạch máu của búi trĩ. Khi mạch máu bị giãn phồng và ứ máu do rặn, bưng vác nặng, có thai, chơi thể thao nặng làm tăng áp lực trong khoang bụng sẽ tạo điều kiện thuận lợi hình thành cục máu đông gây tắc mạch. Tắc mạch trĩ ngoại thì vùng rìa hậu môn sẽ thấy khối phồng nhỏ màu xanh, đi kèm cảm giác đau rát khi sờ, căng. Tắc mạch trong trĩ nội thì có cảm giác đau và cộm trong sâu và triệu chứng không rầm rộ như trĩ ngoại.

Viêm da hay nứt kẽ quanh hậu môn, viêm nhú và viêm khe khi da giữa các búi trĩ bị loét gây triệu chứng ngứa ngáy, nóng rát.

ĐIỀU TRỊ BỆNH TRĨ

Áp dụng cho trường hợp trĩ có triệu chứng

Điều trị nội khoa

Điều trị bảo tồn và chế độ sinh hoạt

Chế độ ăn nhiều chất xơ là phương pháp điều trị hữu hiệu cho trĩ xuất huyết, hạn chế các chất kích thích như rượu, ớt. Tránh hoạt động quá mạnh, tránh ngồi nhiều hoặc đứng quá lâu. Thay đổi thói quen đi cầu tránh táo bón.

Ngồi ngâm hậu môn trong nước ấm giúp cải thiện triệu chứng.

Dùng thuốc: Có thể dùng các thuốc bôi hoặc nhét tại chỗ, thuốc hỗ trợ tuần hoàn tĩnh mạch

  • Thuốc dạng bôi: Dùng để thoa ngoài hậu môn, có tác dụng kháng viêm, chống sưng, giảm đau, sát trùng. Các loại thuốc đó là Oxyquinlone, Boric acid, Phenylmercuric nitrate, Zinc oxide, Tannic acid…
  • Thuốc tây chữa bệnh trĩ dạng uống: Những loại thuốc như Acetaminophen, Ibuprofen (Advil, Motrin), Acetaminophen… có khả năng kháng viêm, giảm đau tại vị trí bị trĩ nhờ đó giúp bệnh nhân cảm thấy dễ chịu hơn. Tuy nhiên loại thuốc này sẽ gây ra một số tác dụng phụ, trước khi dùng cần hỏi ý kiến bác sĩ.
  • Thuốc đặt hậu môn: Thuốc này có hình dạng như viên đại được đặt vào hậu môn. Khi được đưa sâu vào hậu môn, các hoạt chất có trong thuốc sẽ ngấm vào làm teo búi trĩ. Các loại thuốc đặt thường dùng là Proctolog, Avenoc, Neo Haelar, Witch Hazel.

Tuy nhiên việc điều trị trĩ bằng thuốc tây chỉ áp dụng với trường hợp trĩ nội nhẹ từ cấp độ 2 trở xuống mới đạt hiệu quả.

Điều trị ngoại khoa

Đối với các trường hợp trĩ có các biến chứng huyết khối: bệnh trĩ có huyết khối nên được can thiệp sớm bằng cách thực hiện phương pháp cắt bỏ theo các phương pháp kinh điển hoặc phối hợp lấy huyết khối kèm cắt trĩ bằng các phương pháp khác.

Thủ thuật thắt búi trĩ bằng dây thun hoặc chích xơ mạch máu đến nuôi búi trĩ, thường được áp dụng cho các trường hợp trĩ mức độ nhẹ

Chích xơ chỉ định trong trĩ độ 1 và 2, không chỉ định cho trĩ ngoại, trĩ có huyết khối, trĩ nội bị viêm loét hoặc hoại tử. Đối với thủ thuật điều trị chích xơ, 1-2 ml chất làm xơ (thường là natri tetradecyl sulfate hoặc phenol 5%, quinine, urea hydrochloride, polidocanol) được tiêm bằng kim 25-gauge vào lớp dưới niêm của búi trĩ.

Thắt bằng dây thun-Vòng thắt cao su được đặt bao quanh búi trĩ, thắt gây ra sự thiếu máu cục bộ, búi trĩ bị xơ, teo lại và tự rụng đi. Ưu điểm là dễ thực hiện, đơn giản, rẻ tiền, có thể điều trị ngoại trú cho những bệnh nhân trĩ độ 2 và 3

Thắt búi trĩ bằng vòng cao su

Phương pháp Longo (stapled hemorrhoidectomy-PPH, 1998) được thừa nhận ở nhiều nước châu Âu, châu Á. Phương pháp này đã trở thành một lựa chọn được chấp nhận rộng rãi trong phẫu thuật cắt bỏ trĩ để điều trị trĩ nội độ 3 và độ 4. Ở Trung Quốc trong thập kỷ gần đây, thậm chí nó có xu hướng thay thế cho cắt bỏ trĩ truyền thống. Đây là phương pháp không cắt trĩ mà nguyên lý là làm gián đoạn các mạch máu trĩ trên và giữa, sau đó khâu niêm mạc hậu môn-trực tràng bị sa lên trên, đưa các búi trĩ về vị trí trong ống hậu môn do đó làm teo mô trĩ. Ưu điểm ít gây khó chịu hơn vì không cắt bỏ vùng da hậu môn.

Phương pháp khâu triệt mạch THD được thực hiện dưới hướng dẫn siêu âm để làm tắc mạch cung cấp máu cho hậu môn, do đó làm giảm sự phình búi trĩ.

Cắt trĩ bằng các phương pháp kinh điển: Miligan Morgan, Ferguson, White Head, các phương pháp này can thiệp trực tiếp vào búi trĩ nên thường gây đau.

Lưu ý khi điều trị bệnh trĩ

Không có chỉ định phẫu thuật ở những bệnh nhân suy giảm miễn dịch hoặc những người có viêm đại tràng thể hoạt động. Phẫu thuật trĩ cấp cứu đi kèm tỷ lệ biến chứng cao hơn.

Biến chứng cấp tính liên quan đến điều trị bệnh trĩ bao gồm đau, nhiễm trùng, chảy máu tái phát và bí tiểu. Biến chứng muộn bao gồm đại tiện (đi cầu hay đi tiêu) không kiểm soát do tổn thương cho cơ thắt hậu môn trong quá trình mổ xẻ.

PHÒNG NGỪA BỆNH TRĨ

Cách tốt nhất để ngăn ngừa bệnh trĩ là giữ cho phân mềm, để chúng dễ dàng đi qua lỗ hậu môn. Để ngăn ngừa trĩ và giảm triệu chứng trĩ, hãy làm theo các phương pháp sau:

Ăn thực phẩm nhiều chất xơ. Ăn nhiều trái cây, rau củ và ngũ cốc nguyên cám ví dụ lúa mì, yến mạch, lúa mạch, ngô, gạo lứt, lúa mạch đen, kê... giúp làm mềm phân và tăng khối lượng phân. Thêm chất xơ vào chế độ ăn uống từ từ để tránh xì hơi quá mức.

Uống nhiều nước. Uống từ sáu đến tám ly nước và các chất lỏng khác (không phải rượu) mỗi ngày để giúp làm mềm phân.

Xem xét chất bổ sung chất xơ. Hầu hết mọi người không nhận đủ lượng chất xơ được khuyến cáo 25 gam mỗi ngày đối với phụ nữ và 38 gam mỗi ngày đối với nam giới trong chế độ ăn uống. Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng bổ sung chất xơ không kê đơn, chẳng hạn như Metamucil và Citrucel, giúp cải thiện các triệu chứng và giảm chảy máu từ búi trĩ. Những sản phẩm này giúp giữ phân mềm và đi cầu đều đặn mỗi ngày. Cần lưu ý khi sử dụng chất chất xơ bổ sung, hãy chắc chắn uống ít nhất tám ly nước hoặc các chất lỏng khác mỗi ngày. Nếu không, các chất bổ sung có thể gây táo bón hoặc làm táo bón nặng hơn.

Không rặn mạnh khi đi cầu vì khi cố gắng rặn sẽ tạo ra áp lực lớn hơn lên các tĩnh mạch ở trực tràng dưới làm búi trĩ phình to và dễ chảy máu.

Đi cầu ngay khi có cảm giác mắc cầu. Nếu bỏ lỡ cảm giác mắc đi cầu, niêm mạc trực tràng dần hấp thu nước trong phân bị ứ đọng, phân sẽ trở nên khô, cứng và khó hơn đi cầu hơn.

Tập thể dục. Duy trì vận động mỗi ngày để giúp ngăn ngừa táo bón và giảm áp lực lên tĩnh mạch, có thể xảy ra khi đứng lâu hoặc ngồi lâu. Tập thể dục cũng có thể giúp giảm cân.

Tránh ngồi lâu. Ngồi quá lâu, đặc biệt là trên bồn cầu, có thể làm tăng áp lực lên tĩnh mạch ở hậu môn.

 

Ban Biên tập GiaoDucSucKhoe.net

-----------------------------------------------

Nguồn:

https://www.mayoclinic.org/diseases-conditions/hemorrhoids/symptoms-causes/syc-20360268

https://www.vinmec.com/vi/tin-tuc/thong-tin-suc-khoe/benh-tri-tu-a-den-z-nguyen-nhan-dau-hieu-va-cach-dieu-tri-hieu-qua/

https://benhvienphuongdong.vn/lo-mac-benh-tri-co-tu-khoi-duoc-khong/

https://infogram.com/benh-tri-la-gi-nguyen-nhan-dau-hieu-va-phuong-phap-dieu-tri-1hnq41jem7xk43z